Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng

Nguồn gôc của phở

Bạn, nếu bạn là người Việt Nam thì chắc hẳn bạn không thể không biết đến món Phở, món ăn từng một thời được cho là thứ hàng "xa xỉ" của làng quê người Việt Nam ta. Thế nhưng cho đến tận ngày nay Phở đã trở thành một món ăn mà ai cũng đều thích, không chỉ với người Việt mà ngay cả những du khách nước ngoài khi đến Việt Nam cũng đều muốn được thưởng thức cái món ăn cay cay này. Thế nhưng nguồn gốc của Phở ở đâu thì không ai xác định được, người thì cho là có từ Hà Nội, nhưng có người lại bảo là Nam Định mới đúng. Theo như tài liệu ghi lại thì  nguồn gốc của Phở vào cỡ khoảng đầu thế kỉ 20, khi đó nước ta có một món gần gần như Phở bây giờ, được gọi là “xáo trâu” (một món được làm từ thịt trâu, hành, răm và ăn kèm với bún) đang rất thịnh hành bởi không hiểu vì sao mà các cụ nhà ta hồi đấy lại không thích ăn thịt bò  Và như ai cũng biết đây chính là khoảng thời gian nước ta bị thực dân Pháp xâm lược. Do người Pháp chỉ ăn thịt bò, nên bắt đầu xuất hiện những cửa hàng bán thịt bò, nhưng hàng bán chẳng được là bao, ngày nào cũng ế ấm…bỗng có một bà hàng xáo trâu nảy ra ý định “thay xáo trâu bằng xáo bò”. Nhưng khi nấu thành, bà hàng lại nhận thấy ăn kèm với bún không hợp cho lắm…thế là một sáng kiến nữa lại được nảy ra: Xáo bò sẽ được ăn với bánh cuốn chay thái sợi! Không ngờ kết quả lại ngoài mong đợi. Mọi người rất thích món “xáo bò bánh cuốn” này. Cứ thế…dần dần qua thời gian, món xáo bò được cải tiến để thành món Phở tinh hoa như ngày nay.

Bánh xèo chay


Chỉ riêng việc dùng nấm làm nhân, đã có tới gần 50 loại bánh xèo chay khác nhau. Bánh xèo chay phong phú không kém gì bánh mặn.
Thời thượng nhất hiện nay phải kể đến bánh xèo nấm mối. Chiếc bánh xèo vàng óng, thơm thơm mùi nghệ, beo béo vị nước dừa, đậm đà của bột, vị ngọt mà dai đặc trưng của nấm, vị chua thanh của nước mắm chay hoà lẫn với vị cay cay, chan chát, nhân nhẩn của các loại rau. Có lẽ chính vì hiếm có (nấm mối chỉ có vào mùa mưa) và cái chất ngọt, dai, mùi đặc trưng riêng của nấm mối, mà bánh xèo chay nhân nấm mối được nhiều người tìm ăn. Dù các điểm bán thỉnh thoảng mới có được loại nấm này.

Lịch sử các món ăn

Ngày tháng xuất hiện của rất nhiều những món ăn chỉ được ghi nhận lại một cách tương đối. Việc giao lưu giữa các dân tộc đã làm phong phú thêm thực đơn của loài người.

Kem chẳng hạn - đó là kết quả của trí tưởng tượng và tài hoa của nhiều dân tộc khác nhau.

Năm 62 sau công nguyên, ở La Mã cổ đại, món kem đầu tiên từ đá và nước hoa quả đã được chế biến do hoàng đế NêRôn. Vào những năm 600 ở Trung Hoa, người ta đã thêm vào đó cả sữa nữa.

Kem hình thức hiện nay lần đầu tiên được chế biến ở Pháp năm 1769. Còn cốc quế đựng kem xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ năm 1904. Khoảng 10 nghìn năm trước công nguyên trong bữa ăn của con người đã có bia và bánh mì. Bia được đổ vào chai lần đầu tiên năm 1568. Khoảng 3 nghìn năm trước công nguyên con người học được cách nấu xúp. Theo những thư tịch còn lưu đến bây giờ, năm 2737 trước công nguyên con người đã uống nước chè. Năm 1500 trước công nguyên con người đã ăn sôcôla. Khoảng 1200 năm trước công nguyên, con người đã học được kinh nghiệm làm kẹo. Kẹo theo kiểu hiện nay của từ này mới xuất hiện ở thế kỷ IX.

Mâm cơm ngày Tết Nam bộ

Tết Nam bộ được tưới vàng trong nắng. Người dân miệt vườn vốn lam lũ quanh năm. Họ chất phác như cây lúa, ngay thẳng như ngọn tầm vông. Ra ruộng họ chỉ cần nắm muối ớt, sau buổi làm bắt con cá lóc dưới ruộng nướng vàng trong rơm, vừa ăn vừa nhấm nháp những đọt rau dừa, rau đắng bên bờ ruộng. Họ ít thích chế biến cầu kỳ. Thói quen thường ngày như thế nhưng trong mâm cơm ngày Tết, người Nam bộ lại chăm chút với tất cả sự thành kính với tổ tiên, ông bà.

Từ xưa đến nay, những món ăn vẫn được xem là thực đơn vĩnh cửu trong mâm cơm ngày Tết là món canh khổ qua nhồi thịt, thịt heo kho rệu, nhà khá giả có thêm thịt gà luộc xé phay trộn gỏi, đĩa bì cuốn, kèm theo những món ăn này không thể thiếu món củ kiệu muối chua và đĩa rau sống. Những quả khổ qua xanh mướt, tươi rói được gia chủ mua về rửa sạch với nước muối, sau đó lột bỏ hết phần ruột. Thịt heo chọn loại nạc dăm, băm nhuyễn quết đều tay cùng với gia vị là hạt tiêu, chút nước mắm ngon, đầu hành. Trộn càng nhiều, càng đều tay thì nhân thịt càng dai, ăn ngon mà không ngán. Sau này nhiều bà nội trợ sáng tạo cho thêm nấm mèo thái sợi và bún tàu trộn chung với thịt, tạo thêm sự phong phú về màu sắc và thưởng thức thú vị hơn. Để trái khổ qua hầm không bị bung ra trong quá trình nấu, người ta dùng hành lá chần qua nước sôi buộc ngang thân. Món thịt kho hột vịt cũng có khi gọi là thịt kho rệu, thịt heo xắt khúc lớn, ướp với các gia vị như nước mắm, tiêu, đường, nước màu, vắt vào một miếng chanh. Làm như vậy thì thịt sẽ mềm đều hơn, thấm gia vị kỹ hơn.

Món thịt kho khi múc ra đĩa phải có nước thật trong. Muốn gạt hết bọt, người ta dùng một tờ giấy trắng, sạch để lên trên mặt nồi thịt, tờ giấy sẽ dính, hút hết những cặn váng. Thường thì thịt được kho kèm với hột vịt, hột gà; nếu không có hai thứ này, nhiều gia đình kho thịt cùng với những lát cá lóc đồng. Bí quyết để món thịt và cá kho ngon là kho cá riêng cho thấm, chín đều, sau đó cho chung vào một nồi. Món củ kiệu muối chua cũng không thể thiếu. Ngoài khả năng kích thích vị giác thì củ hành, củ kiệu còn là vị thuốc tốt cho tiêu hóa.

Món ăn không bao giờ thiếu trong mâm cỗ ngày Tết Nam bộ là đĩa bánh tét. Ngoài Bắc có bánh chưng nhân thịt, hành củ, đậu xanh... Nhân bánh tét phong phú hơn, có thể là nhân thịt, có khi vài trái chuối cũng làm được nhân bánh, có nhà còn trộn thêm đậu đỏ... vào. Bánh tét có nhiều loại nhân và vị mặn, ngọt tùy ý gia chủ. Một đĩa dưa hấu đỏ cũng là thứ không thể thiếu để thể hiện sự may mắn trong năm mới.

Nhiều người nhận xét, trong mâm cơm ngày Tết có hết thảy các vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng. Cái ngũ vị ấy tượng trưng cho ngũ hành vần xoay. Người đơn giản hơn lại nhận xét, những món ăn ấy trường tồn trong mâm cơm ngày Tết vì nó đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, có thể dùng trong nhiều ngày. Cả năm vất vả, lam lũ rồi, Tết còn phải dành thời gian để đi thăm bạn bè và thưởng lãm cảnh ngày xuân nữa chứ!

Theo Báo Điện Tử Cần Thơ

Ăn cầu may đầu năm

Khởi đầu cho một năm mới với mong muốn phước lộc đến với mọi gia đình, các dân tộc đều có những món ăn cầu may cho dịp đầu năm.

Ngày đầu năm cũng là dịp nghỉ ngơi, vui chơi nên các món ăn thường mang tính lưu trữ. Khi người thân đến nhà chỉ cần năm, mười phút chuẩn bị là có ngay món để nhắm nháp với ly rượu đầu năm.

Cũng như nhiều dân tộc lấy nền văn minh lúa nước làm gốc, người Nhật quan niệm rằng gạo là nguồn gốc của sự thành đạt. Do đó, món bánh dày làm bằng bột gạo nấu với nước xúp cá, nấm và rau cải là bắt buộc phải có. Kế đến, cá được xem là loài vật thông minh giúp con người tài giỏi, năng động hơn trong kinh doanh nên trong mâm thức ăn bao giờ cũng phải có cá. Ngoài ra, trứng cá vàng tượng trưng cho may mắn là món ăn cao cấp chỉ có nhân dịp đầu năm. Chả cá quết với thịt rùa tượng trưng cho phúc thọ. Đặc biệt các món ăn ngày đầu năm được trình bày trong các hộp sơn màu đỏ. Hộp thức ăn càng rực rỡ, nhiều màu sắc, càng hy vọng hưởng được nhiều tốt đẹp trong năm mới.

Đối với ẩm thực Hàn Quốc, trong thực đơn bao giờ cũng có kim chi cùng với khoai, gạo - hai loại lương thực chủ yếu của người dân xứ Hàn. Những món ăn bổ dưỡng như gà, cá, bò hầm cùng sâm rất được ưa chuộng vì ngoài mục đích bồi bổ sức khoẻ, nó còn mang ý nghĩa cầu mong sự an khang thịnh vượng suốt cả năm. Món lẩu hải sản hoặc lẩu thịt bò, các loại rau, củ phải thật đầy đủ để tượng trưng cho sự sung túc. Lẩu thường được dùng chung với cơm hoặc miến.

Nhà hàng Lá Phong, Umi chuyên bán thức ăn Nhật và nhà hàng 7 Ngôi Sao chuyên món ăn Hàn Quốc cùng giới thiệu các món ăn ngày đầu năm. Rượu thưởng thức trong lúc ăn tất nhiên là loại quốc tửu (sake của Nhật và soju của Hàn Quốc).

Theo Sài Gòn Tiếp Thị

Sự huyền diệu của gia vị

Khi những bước chân trần đi khai hoang mở đất, muối ớt, tiêu, hành trở thành gia vị. Vậy mà cuộc đời từ đó đi vào thi ca:
Bậu câu cá bống ngắt đầu kho tiêu.
Kho tiêu bỏ ớt bỏ hành.
Bỏ ba lượng thịt để dành... cho em ăn.

Từ tiêu, hành, tỏi, ớt… người xưa khéo làm nên những món ăn không chỉ ngon miệng, kích thích tiêu hoá mà còn chữa trị được bệnh. Chỉ riêng nước mắm, nhiều bà nội trợ cũng đã hoá thân nó thành hàng chục món chấm độc đáo để ăn kèm với những món khác nhau như nước mắm ớt, mắm tỏi, mắm giấm, mắm chanh, mắm gừng, mắm me, mắm sả... cho đến nuớc mắm sả - đậu phộng - cốt dừa, mắm nêm, mắm tôm... đều được chế biến một cách công phu.

Món ăn của người Việt là sự dung hợp. Có lẽ thời xưa, chọn một món ăn ông cha ta cũng đã dày công trải nghiệm. Có thể điều gì đó trên ngọn dừa và con đuông là sự ngẫu nhiên và sáng tạo. Đuông dừa ngâm trong nước mắm rồi đem nướng ăn với rau rừng, đuông đủng đỉnh nấu cháo dừa khô, còn đuông chà là thì đem hấp xôi. Với sự tinh tế, nhiều món ăn lạ lẫm và kỳ thú nhờ vào gia vị như: còng lột chiên chấm muối tiêu chanh, dế cơm dồn đậu phộng chiên giòn, cua biển rang muối tiêu, cá kèo nướng sả ớt...

Thoạt đầu là sự cảm nhận thay đổi trên đầu lưỡi về sau là bài toán hài hoà hương vị và dinh dưỡng. Món cá trê chiên hấp dẫn là nhờ có chén gừng cay cay. Thưởng thức các món ngon dân dã mà không có chút tiêu xanh để xuýt xoa hoặc trái ớt hiểm làm tê tê đầu lưỡi thì bữa tiệc chẳng còn ý nghĩa gì. Rồi nào mùi thơm dìu dịu của hành, mùi hăng hắc của tỏi và hương vị của rau rừng. Tất cả những thứ đó khi hoà quyện vào nhau sẽ tạo thành một bản “hợp tấu” tuyệt vời về hương đồng cỏ nội.

Các món ăn thảo dã và thức chấm hiện nay là kết quả của một quá trình mày mò, sáng tạo thích ứng với môi trường, thời tiết và ngày càng bộc lộ rõ nét đặc sắc của văn hoá ẩm thực từng nơi, từng vùng. Ngoài Bắc, thịt gà thường trộn lá chanh, ốc hấp lá gừng, thịt luộc chấm nước mắm, còn miền Nam thì gà luộc lại trộn rau răm, ốc hấp lá sả, thịt luộc chấm mắm nêm…

Người xưa coi trọng vai trò của triết lý âm dương trong đời sống con người. “Ví dầu cá lóc nấu canh. Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm”. Đó chính là bài bản gia vị. Canh bí đao hoặc canh cải (hàn) mà không bỏ tiêu (dương), bỏ hành làm sao đạt được cái ngon ngọt, cái hương vị tuyệt vời của nồi canh!

Để tạo nên món ăn có sự cân bằng âm dương, ông cha ta đã chia ra làm năm nhóm thực phẩm tương ứng với: hàn, nhiệt, ôn, lương, bình. Do đó, gừng, tiêu (dương) thường nấu kèm với những món ăn có tính hàn... Ớt (dương) dùng chung với các loài thuỷ sản (hàn)... Rau răm (dương) ăn chung với hột vịt lộn (hàn). Dưa hấu (âm) ăn kèm với muối (dương). Chén nước chấm dung hoà đủ năm vị (ngũ hành) mặn, đắng, chua, cay, ngọt. Vì thế, khi bị cảm lạnh (âm) phải ăn cháo gừng với lá tía tô. Còn khi bị cảm nắng (dương) thì lại ăn cháo hành (âm).

Món ăn Việt dù đơn sơ hay bữa thịnh soạn, lúc nào cũng thanh lịch, trang nhã và mang rõ dấu ấn của nền nông nghiệp lúa nước, thiên về thực vật. Đói ăn rau, đau uống thuốc là thế! Thôn quê ngày nay vẫn còn nặng lòng với các món truyền thống: cá lóc nướng bẹ chuối (ăn mắm me), vịt nướng đất sét (chấm mắm gừng), chuột quay lu (chấm muối tiêu chanh), gà xé phay (chấm muối ớt)... Nhà văn Vũ Bằng mô tả món thịt chuột xào với rau mò om thì huyền diệu lắm, còn nếu như nướng vàng chấm nước mắm sả ớt, thêm chút xoài sống và tí rau thơm sẽ thơm đến mê ly. Nhà văn Sơn Nam ăn cá kèo đòi phải có dưa leo, cá rô trước khi kho phải ướp tỏi, tiêu, hành (đặc biệt là hành phải nướng mới thơm). Ăn cơm hến, bún hến phải vừa ăn vừa gạt nước mắt mới đã. Còn ăn bún nước lèo Trà Vinh phải cắn thêm trái ớt hiểm xanh cay xé lòng mới đủ “đô”. Sắc màu trong tô bún riêu cua hoặc tô phở bò cũng phải đủ xanh, vàng, đỏ, thẫm, nhạt của ớt, tiêu, cà, tía tô, rau ghém để tạo nên một cảm giác ngọt thì ngọt ngay, nóng thì nóng hổi, thơm thì thơm lừng và cay thì cay xé miệng. Đã ăn thì cái gì cũng phải gắt củ kiệu. Đó chính là sự lựa chọn ngàn năm và khi đã cùng ăn thì thật lòng với nhau, mồ hôi lã chã, hít hà quá cỡ mới là sự tận hưởng, đồng điệu. Có lẽ vì vậy, không cần cao lương mỹ vị mà ai đi xa cũng nhớ món mắm kho mẹ nấu, nhớ cá bống kho tiêu và nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Hoài Phương

Sầu đâu - món đắng khó quên

Món ăn có vị đắng ở nước ta không thiếu, “rau đắng sau hè” nổi tiếng về vị đắng thanh tao, món cháo cá không có rau đắng coi như mất ngon đi một nửa. Khổ qua cũng là món đắng không thể bỏ qua, khổ qua dồn thịt xào trứng là một mỹ vị ngự đĩnh đạc trong các đám giỗ, tiệc cưới. Có một món đắng phần nào không được phổ biến lắm, ít người biết đến nhưng thuộc loại cao sang, gần đây là món đặc sản trong các nhà hàng đám tiệc: đó là sầu đâu.
Cây sầu đâu thuộc loại tầm trung bình, cao bốn năm thước, như cây cóc cây ổi, lá kép, óng mượt, bông vàng mọc thành chùm như bông xoài; có nhiều bên đất bạn Campuchia, vườn nhà người Khmer nào cũng có, dễ trồng nên gần như mọc hoang. Ở ta thường có ở vùng biên giới giáp Campuchia, Châu Đốc - Long Xuyên, hoặc ở vùng sâu người Việt gốc Khmer, như Trà Vinh, Sóc Trăng. Nói chung đó là loại cây quê mùa dân dã, lẩn trong các cây không ai chú ý, nếu không có vị đắng nổi tiếng.

Món rau sầu đâu gồm lá non (đọt) và bông. Bông ăn ngon hơn, ít đắng và thơm, nhưng phải tới mùa (trổ bông) mới có. Còn lá non lúc nào cũng có, trộn với khô xé thịt ba chỉ, làm thành món gỏi. Người Khmer ăn với khô cá trèn hun khói, một món ăn sang, làm rất công phu. Một giàn cá trèn cao non thước, chạy dài cả mấy chục thước, cành lá củi tươi chất đốt bên dưới để lấy khói, lửa cháy âm ỉ khói mù mịt suốt mấy ngày, cá trèn khô dần dưới khói thành món ăn đặc sản quý hiếm.

Sầu đâu đắng nhưng ngọt! Ăn với khô cá trèn thịt heo ba chỉ, tôm khô, uống rượu trắng, vì đây là món ăn quê, không chuộng rượu ngoại, bia lại càng nhạt nhẽo, ăn kèm thứ gì cũng được, hơi mặn một chút càng ngon. “Thuốc đắng giã tật”, với dân ta các vị đắng đều là vị thuốc, trước tiên là thuốc nhuận tràng. Sầu đâu cũng thế.

Bánh hỏi Phú Long

Ai về Bình Thuận cho theo
Phú Long bánh hỏi lòng heo - nhớ hoài!

Thật vậy, đến Bình Thuận nếu chưa thưởng thức bánh hỏi Phú Long thì chuyến du lịch xứ biển quả thật chưa trọn vẹn.
Đó là món ăn gồm: bánh hỏi, lòng heo, bánh tráng mỏng, rau sống và nước chấm. Bánh hỏi Phú Long mới nhìn qua tưởng đơn giản, nhưng chế biến cũng thật công phụ Để có được bánh hỏi bạn thưởng thức vừa ý, người làm bánh phải chọn thứ gạo tốt, làm ra từng con sợi trắng tinh, ráo hỏị Lòng heo, nhất là bao tử phải sạch hết mùi hôị Miếng dồi bắt mắt, dọn ra dậy mùi hấp dẫn, nhìn qua đã kích thích khẩu vị vô cùng.
Bánh hỏi lòng heo thường được dùng trong dịp cưới xin, tiệc tùng hoặc điểm tâm sáng. Khi ăn, cuốn bánh tráng với bánh hỏi lòng heo, kẹp rau sống ở giữa, rồi chấm nước mắm chanh đặc biệt. Hương vị lạ có chất béo ngọt của lòng heo, vị ngọt đượm tí chua của nước chấm quyện với rau sống, khiến người ăn thật khoái khẩụ
Bánh hỏi lòng heo xuất xứ từ xóm Lụa - Phú Long (nay là xã Hàm Nhơn huyện Hàm Thuận Bắc), là một trong những loại ẩm thực độc đáo của Bình Thuận, đã có lâu đờị Bí quyết chế biến được ''Cha truyền con nốí', ngày nay đã thành ''Lò'' sản xuất, chuyên cung cấp cho những tiệm ăn đặc sản trong vùng. Món ẩm thực này du khách có thể thưởng thức ngay trong thành phố biển. Nhưng muốn ăn đúng hương vị quê hương phải đến Phú Long, cách Phan Thiết chừng 7 cây số. Nơi đây san sát gần 20 tiệm ăn nằm dọc hai bên đường quốc lộ lẠ Xe xuôi ngược Bắc Nam khi ngang qua vào mỗi sáng thường ít khi bỏ lỡ dịp thưởng thức. Còn vào ngày thứ bảy, chủ nhật, và các dịp lễ lớn, thực khách đến đây rất đông.
Chỉ cần khoảng vài ngàn đồng theo giá bình dân hay giá gấp đôi ở những tiệm sang hơn, thực khách sẽ được một phần ăn ngon lành. Nhưng dù có đi đâu về đâu nhiều người vẫn thích ghé tiệm ăn số 40 đường Trần Phú, Phan Thiết. Cái ngon đậm đà của bánh hỏi lòng heo phải kể đến nước chấm, nên đa số các tiệm ăn đều có bí quyết pha chế riêng để khẳng định tên tuổi của mình

Cơm nướng ( Cơm lam )

Cơm lam là "tài sản" chung của nhiều dân tộc ở vùng cao nước ta. thông thường cơm lam chỉ được làm trong các dịp cúng bái, lễ hội, tiệc tùng long trọng. Chỉ duy nhất với dân tộc Thái thì cơm lam mới có mặt thường xuyên trong các bữa ăn gia đình.
Nướng tất tần tật







Cộng đồng người Thái có mặt ở nước ta từ lâu, họ sinh sống rải rác trên các vùng núi từ Thanh Hoá trở ra phía bắc, nhưng tập trung chủ yếu ở 3 tỉnh Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên và Sơn La, với tổng số dân trên 900.000 người. Họ có chung nguồn gốc xa xưa với người Thái ở Thái Lan. Về cơ bản họ có chung tiếng nói, nhưng chữ viết thì lại khác nhau.
Một nét đặc biệt trong bữa ăn của người Thái, đó là gần như tất cả các món ăn chín đều được chế biến bằng cách nướng. Vì thế mà bếp lửa của người Thái luôn bát ngát mùi thơm. Gà vườn nướng tươi (không ướp) chấm muối ớt, thịt băm gói lá chuối nướng, thịt xiên nướng, cá trắm thái lát nướng, và đặc biệt là cơm nướng.
Hôm đoàn du khảo văn hoá xuyên Việt của chúng tôi đến Sơn La, buổi sáng, sau khi lên viếng công trường nhà máy thuỷ điện đang thi công trên thượng nguồn sông Đà vừa về đến thị xã, đang loay hoay tìm chỗ cơm trưa thì cô Lò Thị Tuyết, người dân tộc Thái, cán bộ thuyết trình của bảo tàng Sơn La, người tình nguyện làm hướng dẫn viên cho đoàn, gợi ý đưa chúng tôi đến ăn một bữa cơm Thái ở bản Mòng, xã Hua La, ngoại ô thị xã Sơn La. Đề nghị này thoạt đầu không gợi mấy hào hứng vì bữa hôm trước chúng tôi cũng đã thưởng thức cơm thái ở bản Ten (Điện Biên). Nhưng khi có thêm thông tin là nơi đó còn có nguồn nước khoáng nóng phục vụ du lịch nghỉ dưỡng thì cánh "nguyên lão" của đoàn quyết định chọn làm điểm đến, mặc dù sau đó không ai ngâm mình vào các bồn nước nóng được dẫn từ suối về. Nhưng tất cả đều trở nên hào hứng khi nghe nói có cơm lam, vì hôm ở bản Ten, do khách đến đột ngột nên món cơm cầu kỳ này không kịp thực hiện.
Nõn nà những búp cơm
Cũng là từ hạt nếp nương, nhưng cơm lam là loại cơm đặc biệt ngon vì nó không được nấu theo cách thức thông thường mà được nướng trên rừng rực than củi trong những ống nứa. Với dân miền xuôi thì dường như tre nứa trên rừng không mấy khác nhau, nhưng với người miền núi thì chúng được phân biệt đến gần 30 giống khác nhau. Loại tre để nấu cơm lam ngon nhất là cây giang. Gạo nếp ngâm ủ qua đêm được cho vào từng ống giang non, loại tre rừng này đặc biệt có lớp vỏ lụa mỏng bên trong lòng đốt. Gạo nếp ngâm ủ qua đêm được cho vào từng ống giang non, thêm nước vừa đủ và nút lại bằng lá chuối khô rồi đưa lên bếp đốt cho đến khi vỏ ống tre cháy sém. Sau đó chẻ tách lớp vỏ giang bị cháy đen bên ngoài chỉ còn phần cật nứa. Khi đó những ống cơm được đưa lên mâm, nhẹ nhàng tách ra làm đôi để "nẩy" ra những búp cơm trắng nõn nà được bó lại trong lớp lụa mỏng như những cổ tay trần búp măng của các cô gái Thái. Trên lớp vỏ lụa trắng mỏng ấy có thoáng chút mặn, chút hương của rừng và của khói làm cho miếng cơm dẻo thật sự thăng hoa.
Ăn cơm lam, ngoài muối vừng, không thể thiếu một loại thức chấm có tên là chéo. Chéo được chế biến từ muối, ớt tươi nướng, hành, rau mùi…, có đến 13 món gia vị trong món chéo, đặc biệt không thể thiếu loại trái rừng có tên là má khén (một loại tiêu rừng), tất cả được đâm nhuyễn. Không có má khén không làm ra chéo, không có chéo không thành bữa cơm lam, cũng như không có trái mác mật ngâm thì không ra món bánh cuốn Lạng Sơn.
Ngoài những món nướng truyền thống, bữa trưa hôm ấy chúng tôi còn được ăn món gỏi làm từ măng chua rất đặc biệt mà người Thái có thể trữ lâu trong các vại sành đến hàng năm vẫn không hề thay đổi chất lượng.
Bữa cơm khách của người Thái không thể không có rượu. Nếu người đàn ông trong nhà say thì cánh chị em sẽ tay chéo rượu mời với khách. Và cùng với những chén rượu là tiếng đàn tính nương đỡ những làn điệu dân ca Thái với những lời hát ứng khẩu ngẫu hứng: "Anh đến bằng đôi chân, bằng con xe hay bằng máy bay đều làm ấm lòng chúng em; làm cho bản em đêm nay bất ngờ có trăng rằm"…