Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn nên biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bạn nên biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Những loại nước ép trái cây tốt nhất

Hiệp hội Khoa học Australia đã nghiên cứu về công dụng của các loại nước ép trái cây và chỉ đích danh những loại đồ uống rất tốt cho sức khỏe, nhất là trong điều kiện thời tiết khô và nóng bức.

Dưới đây là những loại nước ép trái cây thuộc hàng “top ten” mà các chuyên gia ẩm thực Australia khuyên dùng.



Nước ép cà chua


Nước ép cà chua là nguồn cung cấp vitamin A và C rất tốt, giúp vô hiệu hóa các gốc tự do gây nên bệnh ung thư, tim mạch và lão hóa da.


Cà chua còn là nguồn lycopene phong phú. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc dùng nhiều cà chua có thể làm giảm đến 48% nguy cơ bị bệnh tim.


Qua tổng kết của 72 công trình nghiên cứu gần đây, người ta cũng khám phá lycopene có tác dụng đặc biệt hữu hiệu trong việc giảm nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến.


Nước xoài ép


Nước ép trái xoài là “kho” vitamin A, C, E. Ba loại vitamin này có tác dụng rất tốt trong việc chống lại những gốc tự do gây bệnh, làm trì hoãn tiến trình lão hóa.


Một ly nước xoài cung cấp 16% nhu cầu về chất sắt.



Nước cam tươi

Một ly nước cam tươi khoảng 160ml sẽ cung cấp được 75 kcal và hơn 50% nhu cầu trong ngày về vitamin C cho phụ nữ.

Loại flavonoid có trong nước cam sẽ kết hợp với vitamin C, giúp tăng cường hệ miễn dịch và bảo vệ mao mạch.

Nước cam tươi còn là nguồn cung cấp phong phú thiamine và folate. Thiamine tham gia vào quá trình tổng hợp năng lượng, còn folate giúp gia tăng chất lượng máu, ngăn ngừa những khiếm khuyết như bệnh nứt đốt sống ở bào thai.



Nước ép cà rốt

Một ly nước ép cà rốt 160ml cung cấp 64kcal. Nó có hàm lượng cao các chất kali, magiê, canxi và là nguồn cung cấp beta-carotene, carotenoid tuyệt hảo để từ đó cơ thể chuyển hóa thành vitamin A, giúp tăng cường thị lực về ban đêm và giảm nguy cơ bệnh đục thủy tinh thể.

Ngoài ra, những chất chống oxy hóa trong carotenoid còn giúp giảm nguy cơ bị ung thư phổi, dạ dày và bàng quang.

Nước ép cà rốt còn chứa một chất chống oxy hóa hữu hiệu khác là acid alphalipoic, giúp tăng cường khả năng của vitamin A, C, E trong việc loại bỏ những gốc tự do độc hại khỏi cơ thể.


Nước ép nho đỏ


Nước ép nho đỏ có khả năng chống lão hóa tuyệt hảo; chứa những flavonoid tương tự như trong rượu vang đỏ, giúp mở rộng mạch máu và tăng cường lượng máu chảy đến bề mặt da.

Chất quenetin trong nước nho đỏ có tác dụng ngăn ngừa sự kết tụ máu, phòng chống được bệnh tim mạch.

Trong phòng thí nghiệm, chất resveratrol trong nước nho đỏ đã được chứng minh có những hoạt tính kháng ung thư.


Nước ép táo

Nước ép táo rất thơm ngon và chứa một số vitamin, nhiều nhất là vitamin C. Một ly 160ml cung cấp 61cal và gần 50% nhu cầu bổ sung dưỡng chất hằng ngày ở nhóm tuổi 19-50.

Tuy nhiên, so với những loại nước ép trái cây khác, nước ép táo có ít vitamin và khoáng chất hơn.


Nước ép bưởi

Đây là nguồn cung cấp beta - carotene, một chất chống oxy hóa hữu hiệu, có thể làm giảm nguy cơ của nhiều loại ung thư. Bưởi đào chứa lycopen giúp giảm thiểu nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt, phổi, dạ dày, tuyến tụy, ruột, vú...

Lycopen cũng giúp ngăn ngừa sự hình thành những cục huyết khối, do đó giúp giảm thiểu nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị.


Nước ép dứa

Nước ép quả này chứa rất nhiều vitamin C. Men bromelain trong dứa được xem là có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giảm triệu chứng sổ mũi, giúp mau lành những vết thương nhỏ, đặc biệt là căng nhức cơ, bong gân.

Những nghiên cứu mới đây cho thấy bromelain có tác dụng làm giảm hiện tượng sưng phồng, bầm giập và đau đớn đối với những sản phụ trải qua các phẫu thuật nhỏ trong khi sinh. Bromelain cũng có thể giúp giảm triệu chứng của bệnh hen, đau thắt ngực, viêm phế quản.

Theo Sức khỏe và Đời sống

Trái gấc & tác dụng phòng chống ung thư

Gấc - một loại trái rất gần gũi với người dân Việt Nam vì dễ trồng, ăn ngon và cho bóng mát. Ruột gấc có màu đỏ rất đẹp nên thường được dùng để nấu xôi trong các dịp lễ, Tết, cưới hỏi... Mặc dù vậy, có lẽ ít người biết rằng trái gấc chứa rất nhiều dưỡng chất quan trọng cho cơ thể: Màng của hạt gấc giúp tạo sữa nên được dùng cho phụ nữ mang thai, thịt gấc chứa nhiều vitamin A nên dùng điều trị bệnh “khô mắt” cho trẻ em. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, hạt gấc có đặc tính “làm mát” nên được sử dụng trong các bệnh lý gan, lách, vết thương, máu tụ, sưng tấy, mụn mủ... Và gần đây nhất người ta đã phát hiện thêm đặc tính chống ung thư của gấc...



Thành phần dinh dưỡng của gấc
Gấc là nguồn thực phẩm rất giàu carotenoids (gồm chủ yếu những chất như: beta-caroten, lycopen...).
Beta-caroten có tác dụng giúp tăng cường thị lực, tăng sức đề kháng, làm giảm LDL cholesterol và phòng ngừa các bệng lý tim mạch...
Lycopen có tác dụng phòng chống ung thư, các bệnh tim mạch, lão hóa...
Màng của hạt gấc có hàm lượng lycopen 380 mg/g, gấp mười lần so với trái cây giàu lycopen đã được biết như trái ổi.
Hàm lượng lycopen trong thịt gấc là 2.227 mg/g gấc tươi. Phần thịt gấc cũng có hàm lượng fatty acid rất cao, từ 17 - 22% (trọng lượng). Tinh dầu gấc có chứa nồng độ carotenoids là 5.700 mg/ml với 2.710 mg/ml là beta-caroten. Nhu cầu dầu gấc hàng ngày của một người khoảng 2 ml. Lượng beta-caroten hấp thu (từ dầu gấc) khoảng 5 mg/người.
Trong tinh dầu gấc hàm lượng vitamin E cũng rất cao. Vì vậy, gấc là nguồn thực phẩm cung cấp các chất chống oxy hóa có giá trị sinh học cao.
Gấc và tác dụng phòng chống ung thư
Ung thư tiền liệt tuyến
Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng ăn nhiều cà chua hoặc các sản phẩm cà chua, cũng như có nồng độ lycopen trong máu cao giúp làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư tiền liệt tuyến. Trong khi đó, gấc có hàm lượng lycopen cao hơn cà chua 12 lần. Điều này cho thấy gấc có thể có tác dụng phòng ngừa ung thư tiền liệt tuyến. Thử nghiệm trên 26 bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư tiền liệt tuyến được cho uống 15 mg lycopen/ngày trong ba tuần trước phẫu thuật. Kết quả cho thấy kích thước của khối bướu giảm rõ rệt.
Ung thư gan và xơ gan
Trường Đại học Y Hà Nội và Viện Quân y 108 nghiên cứu tác dụng của thuốc làm từ tinh dầu gấc trong phòng ngừa và điều trị các bệnh lý gan như viêm gan, xơ gan và ung thư gan. Bệnh nhân ung thư gan sau một thời gian điều trị kích thước khối u thu nhỏ và nồng độ a feto - protein/huyết thanh trở về mức bình thường. Ngoài ra, thuốc còn có hiệu quả sửa chữa các tổn thương DNA ở chuột bị gây nhiễm chất độc dioxin thực nghiệm.
Gấc có chứa nhiều hoạt chất chống oxy hóa, do đó có hiệu quả phòng chống các ung thư liên quan đến các gốc tự do như ung thư gan, ung thư đại tràng, ung thư tiền liệt tuyến và ung thư vú...
Gấc nên được xem như là thực phẩm chức năng và nguồn dược liệu dùng trong phòng ngừa và điều trị các bệnh lý ung thư, bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh lý viêm mãn tính...

Để tiện sử dụng và bảo quản, trong nước đã sản xuất một số sản phẩm từ gấc như dầu gấc, viên gấc. Ở nước ngoài còn có thêm mứt gấc, nước giải khát từ gấc với giá bán rất cao.


Nguồn Báo Khoa Học Phổ Thông

Lịch sử các món ăn

Ngày tháng xuất hiện của rất nhiều những món ăn chỉ được ghi nhận lại một cách tương đối. Việc giao lưu giữa các dân tộc đã làm phong phú thêm thực đơn của loài người.

Kem chẳng hạn - đó là kết quả của trí tưởng tượng và tài hoa của nhiều dân tộc khác nhau.

Năm 62 sau công nguyên, ở La Mã cổ đại, món kem đầu tiên từ đá và nước hoa quả đã được chế biến do hoàng đế NêRôn. Vào những năm 600 ở Trung Hoa, người ta đã thêm vào đó cả sữa nữa.

Kem hình thức hiện nay lần đầu tiên được chế biến ở Pháp năm 1769. Còn cốc quế đựng kem xuất hiện lần đầu tiên tại Mỹ năm 1904. Khoảng 10 nghìn năm trước công nguyên trong bữa ăn của con người đã có bia và bánh mì. Bia được đổ vào chai lần đầu tiên năm 1568. Khoảng 3 nghìn năm trước công nguyên con người học được cách nấu xúp. Theo những thư tịch còn lưu đến bây giờ, năm 2737 trước công nguyên con người đã uống nước chè. Năm 1500 trước công nguyên con người đã ăn sôcôla. Khoảng 1200 năm trước công nguyên, con người đã học được kinh nghiệm làm kẹo. Kẹo theo kiểu hiện nay của từ này mới xuất hiện ở thế kỷ IX.

Trái Chanh kỳ diệu



Giúp da trẻ đẹp: Vắt chanh vào một tô nhỏ, thêm một ly sữa nguyên chất đun nóng và một thìa cà phê glycerin, khuấy đều và để trong nửa giờ. Thoa hỗn hợp này lên mặt, tay và chân trước khi đi ngủ.
Liệu pháp này mỗi tối sẽ giúp bạn lúc nào cũng trẻ đẹp. Đây cũng là bài thuốc chữa mụn nhọt.

Bớt nhờn cho da: Vắt nước chanh vào một bát nước đá. Vỗ nước chanh đá này lên rồi massage trong 5 phút và rửa lại bằng nước sạch.

Cải thiện làn da xỉn màu và bóng nhờn: Trộn nửa thìa cà phê nước cốt chanh với một thìa cà phê nước ép dưa leo (dưa chuột) và một vài giọt nước hoa hồng. Thoa lên mặt, cổ và để trong 15 phút. Rửa lại sạch bằng nước.

Cải thiện làn da khô và thô ráp: Lấy một lòng đỏ trứng gà, vài giọt chanh và dầu oliu trộn với nhau. Thoa đều lên mặt đến khi da cảm thấy khô. Rửa sạch bằng nước bình thường và sau đó té nước lạnh lên mặt.

Giảm mệt mỏi cho mắt: Lấy 4 thìa cà phê nước chanh trộn với 4 thìa cà phê nước đá. Nhúng bông gòn vào dung dịch này, nhắm mắt và đặt lên đó trong khoảng 10 phút.

Xóa vết tàn nhang: Làm sạch và nghiền hai quả hạnh. Trộn với lòng trắng một quả trứng gà và nửa thìa cà phê nước chanh. Thoa đều lên mặt và đến khi cảm thấy da khô. Sau đó rửa sạch bằng nước ấm và rửa lại bằng nước lạnh.

Nước rửa mặt bằng dưa leo và chanh: Hòa 1/4 thìa cà phê nước cốt chanh với 1 thìa cà phê sữa và một thìa cà phê nước ép dưa leo. Thoa lên mặt và cổ rồi rửa sạch sau 14 phút. Loại lotion này giúp làm sạch và thông thoáng lỗ chân lông.

Theo Gia đình trẻ

Các Món Ăn Làm Đẹp Ngực

Một số món ăn có thể giúp vòng 1 phụ nữ săn chắc, nở nang, tuyến sữa phát triển tốt, chẳng hạn như tôm viên sốt cam, sữa -trứng gà, mướp trộn tôm.

Sữa và trứng gà

Món này rất đơn giản: Mỗi ngày vào buổi tối, bạn uống 1 ly sữa ấm và ăn một quả trứng gà luộc chín.

Mướp trộn tôm

Y học cổ truyền hay dùng mướp làm thuốc thông các tuyến sữa và gìn giữ bộ ngực không bị biến dạng. Việc ăn mướp thường xuyên còn có tác dụng giúp cơ thể tiêu độc và làm đẹp da.

Mướp 1 quả, tôm 50-100 g, cẩu khởi 12 g. Mướp thái miếng chéo mỏng dài, xào qua, nêm vừa miệng rồi cho tiếp cẩu khởi vào xào chung. Cuối cùng, cho tôm đã hấp chín vào đảo đều, ăn nóng.

Tôm viên sốt cam

Tôm giàu canxi, đạm và các nguyên tố vi lượng, có tác dụng chống lão hóa và thúc đẩy quá trình tạo máu, tạo tế bào. Khi kết hợp với cam hay quýt tươi là những thức giàu vitamin C và các yếu tố vi lượng khác, nó giúp làm săn chắc, nở nang bầu ngực.

Tôm nõn 400 g, cam tươi hay quýt 1 quả vắt lấy nước, nấm hương, dầu bắp. Tôm nõn ngâm nước, xay nhuyễn với dầu ăn, trộn muối, lòng trắng trứng gà, cùng chút bột, viên lại thành viên nhỏ. Đun dầu nóng và cho viên vào cùng nấm hương, đậu, bắp rồi xào. Nêm đủ gia vị, đổ nước cam hoặc quýt đã vắt, thêm chút nước đã hòa bột đao và chờ đậu, bắp chín là được.

ăn uống chống bệnh tăng huyết áp

[Sức khoẻ]

Ai cũng biết rằng, để phòng cũng như chữa bệnh tăng huyết áp, cách ăn uống hợp lý có tầm quan trọng lớn nhất. Trọng tâm tất nhiên là ăn giảm muối, ăn đúng mức cho khỏi béo, bớt rượu... Nhưng còn một số điều nên áp dụng để chống tăng huyết áp rất tốt bằng cách ăn hợp lý 5 nhóm thức ăn sau.


1. Các chất béo (còn gọi là Lipid)

Mỡ và dầu đều là thức ăn cho rất nhiều calo: 900 calo mỗi lạng mỡ lợn, mỡ bò hay dầu lạc, dầu vừng. Vì vậy, muốn giảm cân nặng, chống béo, cần hạn chế ăn cả mỡ lẫn dầu, để giảm bớt lượng calo đưa vào cơ thể. Tuy nhiên, nói về tác hại đối với hệ tim mạch thì các loại dầu và mỡ rất khác nhau. Có những chất béo chứa nhiều axít béo bão hòa làm tăng cholesterol "xấu" nên gây xơ vữa động mạch nhiều hơn. Mỡ bò, mỡ cừu chứa tới 90 axít bão hòa. Dầu dừa và dầu cọ cũng có hại như vậy, tuy chúng được làm từ thực vật. Có nhiều thức ăn cũng béo nhưng chứa tương đối ít axít bão hòa (dưới 40%), đó là những dầu thảo mộc như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu ngô. Ðặc biệt, dầu ô-liu đã góp phần giảm tỷ lệ bệnh tim ở dân cư vùng Ðịa Trung Hải, nên rất được ưa chuộng. Những thức ăn này không gây những mảng xơ vữa trong lòng động mạch chủ nên không có hại cho hệ tim mạch, thậm chí người ta còn thấy chúng "dọn sạch" bớt các mảng xơ vữa đi. Ðó là những thức ăn nên dùng. Dầu lạc ở vị trí trung gian có 70% axít bão hòa cũng tương đối tốt. Về cholesterol, ai cũng biết là một chất béo có hại cho hệ tim mạch, nhưng cũng phải công nhận rằng nó cũng lại rất cần cho đời sống. Kiêng cholesterol quá đáng cũng không tốt cho sức khoẻ. Hơn nữa, chỉ có 1/4 cholesterol trong máu là do ăn vào, còn 3/4 kia do các tế bào tự tổng hợp ra. Dù kiêng kỹ đến đâu, cũng không thể ảnh hưởng đến 3/4 đó được.

Lòng đỏ trứng gà, vịt chứa khá nhiều cholesterol, mỗi quả trứng trung bình 17gr chứa tới 220mg cholesterol và nhiều chất mỡ, chủ yếu là axít bão hòa. Như vậy, người huyết áp cao, mỗi tuần có thể ăn 2 - 3 lòng đỏ trứng, không cần phải "kiêng tuyệt đối" như người ta vẫn tưởng trước đây. Lòng trắng trứng không chứa chất béo, nên không phải kiêng. Sữa bò cũng như sữa dê, sữa trâu có khá nhiều cholesterol (110 mg/lít) và axít bão hòa (36g/1ít), không nên uống nhiều quá. Sữa đã loại bớt chất béo (sữa gầy) có thể dùng thoải mái hơn. Bơ lại càng nên tránh vì quá nhiều cholesterol (280mg/100gr) và axít bão hòa (77gr/100gr). Sữa chua có ít chất mỡ hơn sữa tươi và ít cholesterol hơn. Gần đây, người ta nhận thấy rằng mỡ trong thịt gà và trong cá cũng ít axít béo bão hòa, nên có thể ăn tốt, không phải kiêng như đối với mỡ bò, mỡ lợn, bơ sữa. Có thể tóm tắt như sau về các thức ăn nhiều chất béo:

Nên ăn: Các dầu thực vật, trừ dầu dừa và dầu cọ (thị trường nước ta có nhiều dầu cọ, nên chú ý khi mua). Tốt nhất là các dầu ô-liu, dầu quì (hướng dương), dầu ngô (bắp), dầu đậu nành, dầu vừng (mè), rồi đến dầu cám, dầu lạc (phộng).

Nên kiêng: Các mỡ động vật, nhất là mỡ lấy từ sữa như bơ, rồi đến mỡ cừu, mỡ bò, mỡ lợn (heo) có thể dùng ít. Về dầu thực vật, nên kiêng 2 thứ là dầu dừa và dầu cọ. Riêng mỡ cá và các loại chim như gà, vịt... có tác giả cho rằng không có hại, có thể ăn bình thường.

2. Các chất đường bột (gọi chung là glucid)

Ðây là những nguồn năng lượng chính của cơ thể, cần ăn đủ theo yêu cầu. ¡n nhiều quá sẽ sinh béo, tăng cân, nhưng ít quá thì không đủ nhiên liệu để sống và làm việc, dẫn đến gầy sút, suy dinh dưỡng, làm mồi cho nhiều bệnh khác. Nhưng các loại đường thì nên hạn chế vì có thể gây hại cho răng, cho tụy, nhất là ở người tiểu đường. Ðường gluco ăn cũng có hại như đường cát, không hiểu tại sao người ta lại cứ cho là bổ! Mật o­ng cũng nên hạn chế như các loại đường khác. Các loại hoa quả quá ngọt như na (mãng cầu), mít, vải cũng nên dùng có mức độ. Các chất bột trong ngũ cốc là nguồn năng lượng tốt hơn. Vào trong máu, chúng cũng biến thành đường nhưng chậm hơn, cơ thể có thì giờ tiêu thụ mà không bị tràn ngập như các loại đường nhanh kể trên. Gạo rất tốt mà lại phù hợp với thói quen người Việt Nam. Các lương thực khác có thể tùy sở thích mà thay thế là bột mì, ngô, khoai, sắn...

3. Các chất đạm

Thịt và cá, người tăng huyết áp không cần hạn chế, nhưng cá tốt hơn thịt đối với hệ tim mạch vì có chất bảo vệ tim hiệu quả hơn. Cả 2 thức ăn đều không gây béo, trừ khi có lẫn nhiều mỡ. Các đạm thực vật cũng rất tốt, nhất là đạm trong đậu nành, trong lạc và các loại đỗ. Gạo cũng chứa nhiều đạm tốt.

4. Rau và quả

Rau và quả là những thức ăn rất tốt cho người bị tăng huyết áp cũng như bị các bệnh tim mạch khác. Một là chúng chứa nhiều kali và hầu như không có natri, hai điều này rất có lợi cho người tăng huyết áp. Hai là, rau quả chứa nhiều vitamin thiên nhiên, tốt hơn các vitamin tổng hợp. Chúng lại còn chứa nhiều chất chống oxy hoá góp phần giữ cho các tế bào được trẻ trung lâu hơn. Ba là, chúng đem lại cho cơ thể nhiều chất xơ, cần thiết cho hoạt động tiêu hoá, và có thể còn góp phần tống cholesterol ra ngoài cơ thể. Bốn là, chúng cung cấp rất ít calo, chống được béo, giảm được thể trọng. Nước ta bốn mùa đều sẵn rau quả, cần tận hưởng sự ưu đãi đó của thiên nhiên.

5. Các muối khoáng.

Các muối khoáng, trừ natri, đều có lợi cho sức khoẻ chung: kali, magné, calci.

Tóm lại, các bữa ăn ở gia đình cần luôn luôn đổi món, chế biến sạch sẽ, gia vị vừa phải, không khí tình cảm... Ðược như vậy sẽ là rất tốt để giữ gìn sức khoẻ nói chung và phòng bệnh tim mạch nói riêng.

Thuốc từ các loại quả

Thật thú vị khi các loại quả mà ta vẫn ăn hằng ngày lại là những vị thuốc hay dùng chữa trị được nhiều bệnh. Chẳng hạn, quả cà có thể chữa sưng tấy, quả khế chữa ngộ độc, dị ứng.

Quả cà

Quả cà vị ngọt, tính lạnh, không độc, tác dụng chữa nóng lạnh, ngũ tạng hao tổn, làm tán huyết ứ, tiêu sưng, cầm máu.

Chữa sưng tấy: Dùng quả cà mài với giấm, hay giã nhỏ chưng cùng giấm, đắp vào chỗ sưng.

Chữa đại tiện ra máu, phụ nữ rong huyết: Lấy quả cà già có màu vàng cả cuống, sao già tán nhỏ, uống mỗi lần 8 g cùng nước giấm nhạt, ngày uống 3 lần.

Chữa lở miệng có nấm, răng sâu sưng đau, trĩ ra máu: Dùng cuống cà hay hoa cà đốt thành tro, tán nhỏ, uống với nước cơm, mỗi lần 8 g, kết hợp xát vào chỗ răng đau.

Quả nhót tây
Quả nhót tây có vị ngọt chua, tác dụng giải khát, mát phổi, hạ khí, ngừng nôn, nhưng ăn nhiều lại sinh đờm, làm kém tiêu. Lá nhót tây vị đắng, tính bình, tác dụng chữa ho nhiệt, ngừng nôn ợ, lợi tiểu, liều trung bình dùng dạng sắc là 2-4 lá, có thể phối hợp thêm các vị khác. Lưu ý : người hư hàn, lạnh bụng không dùng.

Chữa gan, lách sưng đau (vì đờm kết cản trở lưu thông huyết mạch): Dùng hạt nhót tây 10 g giã nhỏ, sắc uống hoặc thêm nghệ đen 8 g, rễ quạt 8 g, sắc uống trong ngày, chia 2 lần.

Quả mít
Mít có vị ngọt, hơi chua, tác dụng bổ tỳ ích khí, làm đẹp da mặt, khỏi phiền khát, giã rượu. Hạt mít lại bùi ngon, bổ trung ích khí, làm khỏi đói, mạnh sức, nhẹ mình.

Làm tăng tiết sữa: Lấy lá mít, quả mít non hay dái mít, lá mít sắc uống, hoặc hầm quả mít non cùng gạo nếp và chân giò lợn ăn sẽ có nhiều sữa.

Làm thông trung tiện, hạ khí: Dùng hạt mít nướng hay luộc ăn sẽ tác dụng.

Quả trám
Quả trám có vị chua ngọt, bùi béo, tính ấm, sinh tân dịch, giải khát, thanh giọng, giải độc rượu, độc cá.

Chữa môi lở đau không ăn được: Dùng quả trám đốt thành tro, tán nhỏ trộn với mỡ lợn bôi vào sẽ khỏi.

Chữa bị hóc xương cá, hay hôn mê: Dùng quả trám giã lấy nước uống hoặc sắc lấy nước uống, liều không hạn chế.

Chữa da nứt nẻ do trời rét: Lấy hạt trám đốt tán nhỏ hòa trong dầu, xoa vào sẽ khỏi.

Chữa viêm tắc mạch máu: Dùng quả trám trắng 200 g, nấu hay luộc ăn cả cái lẫn nước. Ăn liền trong 50 ngày sẽ công hiệu.

Chữa sâu răng: Đốt quả trám, tán nhỏ, trộn thêm ít hạ hương xát, xỉa vào răng sẽ khỏi.

Quả khế
Quả khế vị chua hơi sít, tính bình, tác dụng giải khát, sinh tân dịch, trị phong nhiệt, giải độc, lợi tiểu.

Chữa dị ứng do tiếp xúc với sơn: Dùng quả khế thái miếng xát hay lấy lá khế vò nát xát vào.

Chữa ngộ độc: Ép nước khế uống thật nhiều sẽ hiệu nghiệm.

Chữa tiểu không thông: Lấy 7 quả khế chua, mỗi quả cắt lấy 1/3 phía cuống, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát uống nóng. Kết hợp dùng 1 quả khế và 1 củ tỏi giã cùng, sau đem rịt vào rốn băng lại, sẽ thông tiểu ngay.

Quả dứa
Dứa vị ngọt, tính bình, tác dụng giải khát sinh tân dịch, giúp tiêu hóa chống viêm dạ dày…

Làm tan sỏi tiết niệu: Lấy quả dứa khoét một lỗ nhỏ nhét cục phèn chua vào, đậy nắp kín và nướng chín nhừ, vắt lấy nước uống, có thể làm tan được sỏi tiết niệu, cần kiên trì.

Trị dạ dày thiểu toan: Dùng nước dứa làm nhuận tràng, uống nhiều có thể xổ nhẹ, khỏi tích trệ.

Quả na
Na có vị ngọt, hơi chua, tính ấm, tác dụng hạ khí, tiêu đờm, chữa đi lỵ và tiết tinh, người bệnh tiêu khát ăn có lợi.

Chữa nhọt ở vú: Dùng quả na điếc mài với giấm, bôi nhiều lần sẽ khỏi.

Chữa đi lỵ ra nước không dứt: Lấy 10 quả na ương (tức na sắp chín) bổ ra, cho vào 2 lít nước sắc còn lại 1 lít ăn cả nước lẫn cái.

Hạt na trị chấy rận.

Quả dưa chuột
Theo Đông y, dưa chuột vị ngọt, tính lạnh, tác dụng thanh nhiệt giải khát, lợi tiểu, chữa phù thũng và trẻ em bị bệnh kiết lỵ.

Chữa hội chứng lỵ nhiệt ở trẻ em: Dưa chuột 10 quả non, nấu với mật cho trẻ ăn dần trong 1-2 ngày là khỏi.

Chữa phù thũng (bụng chướng, chân tay đều phù): Lấy quả dưa chuột to bổ ra, để nguyên cả hạt nấu với giấm cho chín, ăn vào sáng sớm khi bụng đang đói, ăn cả nước lẫn cái, phù sẽ rút dần và hết phù.

Gây nôn chữa ngộ độc trong đường tiêu hóa: Lấy lá dưa chuột giã vắt lấy nước cốt uống tức thời sẽ nôn thốc nôn tháo những thức ăn gây ngộ độc ra ngoài.

Lưu ý :những người lạnh bụng, thận hư không nên ăn nhiều dưa chuột
.

Quả lựu
Vỏ quả lựu, vỏ rễ, thân đều có tác dụng sát khuẩn, cầm tiêu chảy.

Chữa tiêu chảy không dứt: Vỏ quả lựu 20 g, sắc uống nhiều lần trong ngày.

Tản mạn về ớt

Ớt là một loại rau gia vị rất phổ biến và được nhiều người ưa chuộng, nhiều khi không thể thiếu trong bữa ăn của nhiều gia đình, nhất là khu vực Châu Á. Các quốc gia Châu Á đều rất thích ớt trong bữa ăn hàng ngày, nhất là Indonexia, Malaixia, Thai lan, Hàn quốc, Trung quốc ...

Ở Việt nam, ớt rất được ưa chuộng ở miền Nam, một số tỉnh miền Bắc và hầu như không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của người miền Trung.


Cùng là trái ớt, nhưng mỗi vùng miền lại có cách chế biến, cách ăn khác nhau. Ở vùng này nó chỉ là gia vị, nhưng ở vùng khác lại là món chủ lực "đưa cơm". Nếu ai đã từng đến Lạng Sơn, sẽ không thể "làm ngơ" trước một đặc sản của vùng này, đó là món măng ngâm ớt. Những lát măng trắng mỡ màng nằm chen lẫn với những quả ớt chỉ thiên nhỏ xíu mà cay xé lưỡi - hai món vốn kị nhau nhưng khi được kết hợp lại với nhau thì tạo nên những hương vị thật đặc biệt. Thêm vài quả móc mật thả lẫn vào lọ măng ớt để tăng thêm độ giòn thơm của măng. Đặc biệt trong những ngày đông tháng giá, bữa cơm, bát phở có thêm vài lát măng ớt, cái lạnh sẽ tự dưng biến mất; trong người dâng lên một cảm giác bừng bừng, phấn chấn thật dễ chịu. Vì vậy không quán ăn nào ở xứ Lạng xinh đẹp này lại có thể thiếu được món măng ớt "độc nhất vô nhị".

Tuy nhiên ở miền Bắc, không phải vùng nào cũng ăn ớt được như ở Lạng Sơn. Thông thường ớt chỉ là thứ gia vị thêm thắt cho bữa ăn, và cũng chỉ người nào ăn được cay mới nồng nhiệt với nó. Nhưng ở miền Trung đây lại là món gia giảm quan trọng cho các bữa ăn. Ớt ở đây không thuần tuý chỉ ăn tươi ( quả ớt ăn tươi ) mà được chế biến rất cầu kỳ, có nơi trở thành một nghệ thuật chế biến... ớt mà không phải ai cũng làm được.

Ở Quảng Bình và Quảng Trị, ớt được muối trong các hũ đất nung, sau một thời gian ( thường là 2-4 tuần ) mới đem ra thưởng thức. Nhà nghèo thì ăn ớt muối với cơm gạo mới, có thể ăn bay 5-7 bát không cần thịt cá. Nhà khá giả thì ăn ớt muối với thịt chân giò luộc, hay các món cao lương mỹ vị khác. Bữa nào không có ớt ăn thì thấy nhạt mồm nhạt miệng, ăn không thấy ngon. Về sau, ớt muối càng ngày càng được khách quốc tế ưa chuộng, và được xuất khẩu từng container sang tận trời Âu.

Vào đến Huế, ớt càng được chế biến công phu, kiểu cách hơn. Nào ớt bột, nào tương ớt, nào ớt xào, ớt chưng, ớt làm nước mầu cho một số món ăn; thức ăn nào ở đây cũng đều bỏ ớt bột. Nhiều du khách đến Huế, mong muốn thưởng thức các món ăn ở đâu nhưng khi ngồi trước các đĩa thức ăn đỏ lừ ớt đành lắc đầu chịu... thua vì cay quá. Người Huế thường ăn ớt xanh: cắt lát thả nổi trên tô nước mắm pha lợt ngọt ngọt, ăn với bánh bèo, bánh lá, bánh nậm, mỏng dé và nhỏ xíu. Đặc biệt có hũ dưa món : củ cải dưa gang, cà rốt xắt nhỏ, ớt trái nhỏ, trong nước mắm nấu có đường.

Vào tới Quảng Nam, ớt lại được ăn một cách nguyên sơ. Ớt trái chín cắn rùm rụp, với nước mắm không pha, mắm nêm không pha. Ta bỏ ớt chín trong thịt, cá kho ăn càng ngon, càng thơm. Nhưng có loại cá không kho với ớt mà lại kho với tiêu : cá ngừ kho với hột tiêu đập giập, nước sền sệt, chan bún ăn thì tuyệt. Có loại mắm cao cấp phải ăn với tiêu mới đúng vị. Khác với tô mì Quảng ngày nay, đã cải biên rất nhiều. Trên mặt tô mì trước đây là một bức tranh siêu hiện đại, mầu sắc rất hòa hợp, nhịp nhàng. Hành xanh nhỏ rí rắc như cỏ non lún phún. Chen vào đó một ít tóp mỡ mầu sữa đục và bánh tráng mè bẻ vụn. Tất cả nằm trên một nền vàng lợt của sợi mì bóng loáng. Một trái ớt chín ( ớt sừng trâu ) cắm xiên, dáng nghênh ngang như thách thức. Trộn lên lùa một đũa, nghe đủ hương vị thấm thía, cắn một miếng ớt dòn rụm.























Ở Hội An, có dưa món được chế biến rất tỉ mỉ, nghệ thuật. Trông ngon lành, không mặn quá nhưng không ngọt như dưa món Huế. Thành phần thì có thêm tỏi, cà rốt ( sau này ), ăn hấp dẫn, giòn thơm và hơi the vì có ớt. Món dậy mùi thơm nhờ nước mắm nguyên chất, không pha bột ngọt, đường như ngày nay. Nhất là khi ghé tới đấy, bạn chớ có quên tương ớt ( không phải ớt tương ) cay, tương béo, bùi được nhốt vào một cái hũ chao hay một hũ bằng nhựa trong. Có người khách nước ngoài mê hương vị tương ớt Hội An, nên trét trên bánh mì, cho đó là loại patê rất ngon, vừa ăn, vừa xuýt xoa, nước mắt ràn rụa.

Ở miền Nam, bà con thường ăn ớt hiểm còn xanh, trái rất nhỏ, ngâm trong giấm, có khi thêm tỏi để thêm ngon miệng hoặc khi có món nhậu, hoặc ăn với hủ tíu Mỹ Tho, hủ tíu Nam Vang. Cũng như ở các vùng cao, vùng núi non, rừng rậm ngoài sắc, miền trung, một số tỉnh có rừng núi người dân ở những nơi đó ăn ớt từng bụm, nhai rau ráu, coi như là một cách chống lại khí hậu khắc nghiệt, chống lại nước độc.

Gần đây, ở Trảng Bàng ( Tây Ninh ) nổi lên một hàng ớt, cũng thu hút được khách du lịch. Đến đây không chỉ ăn món bánh tráng phơi sương, còn mua một keo bằng nhựa trong, đựng một thứ ớt bột, ăn vào thấy ngon ác. Mầu ớt bột không đỏ lắm, gồm : muối, ớt khô, bột ngọt, tôm khô nghiền nhỏ trộn lẫn. Cách thức chế biến, và có thêm chất gì không thì chỉ người làm mới biết được. Ớt bán riêng từng bịch 200gr, 500gr... được nhiều người tìm mua.

Muối ớt là một gia vị đặc biệt không thể thiếu trong nhiều món ăn ở một số tỉnh phía nam... Muối phải là muối cục rang lên, rồi giã với ớt. Ớt trắng quyện với mầu đỏ của ớt trông vừa đẹp mắt, vừa muốn ứa nước miếng. Món ớt này ăn với các trái cây có vị chua như : sơ ri, thơm, bưởi chua, mận... thì càng ngây ngất hơn nữa. Nhìn chung, với các món mặn, muối ớt tăng phần hấp dẫn: thịt rắn xé phay, cà-ri gà vịt, cháo gà, thịt gà xé phay, cá nướng, cá kèo nướng, gà nướng... ngon lạ lùng: Phải nói thêm là các món canh chua phải có muối ớt ăn mới đậm đà, các vị chua cay, mặn, ngọt đều được đi qua đầu lưỡi.

Ớt có rất nhiều loại như ớt hiểm, ớt xiêm, ớt nải chuối ( một chùm ớt dính nhau như nải chuối ), ớt sừng trâu, ớt giấy, ớt bi ( còn gọi là ớt bị, nhỏ như viên bi trẻ em chơi, hôi nỉ, không ai ăn chỉ để trồng kiểng ), trái ớt có góc cạnh, không được tròn trịa, ớt Đà Lạt v.v.

Nhưng có một giống ớt trái rất tròn, gần bằng trái bồ quân, trông rất đẹp. Trái tròn, không góc cạnh. Cũng mầu xanh, đổi qua vàng, rồi cam đến đỏ ối. Đó là ớt bơ. Đặc biệt khi chín dằm nước mắm có mùi thơm như bơ, gốc ở Sóc Trăng. Giống này đã tuyệt chủng. Với mỗi loại ớt này đều có thể chế biến với nhiều loại món ăn khác nhau, cho những mùi vị đa dạng, khó quên cho các món ăn Việt Nam.

Thực phẩm phụ thêm cho sữa


Món cho trẻ emKể từ tháng thứ năm và trễ nhất từ tháng thứ bảy , lượng dinh dưỡng trong sữa không còn đủ cho đứa bé. Đứa bé cần bên cạnh sữa mẹ, sữa chai,thêm các loại khác để có thể phát triển được tốt hơn. Động tác nuốt bú từ từ giảm đi nơi đứa bé vàchúng phát triển thêm các động tác mút, nhai. Vào thời điểm này các bà mẹ có thể bắt đầu suy nghĩ đến các thực đơn thích hợp cho đứa bé. Giai đoạn chuyển đổi từ thực phẩm lỏng sang thực phẩm cứng có thể bắt đầu. Quan trọng là nên chia giai đoạn này ra từng phần một và nên để đứa bé có thời gian làm quen với thực phẩm mới. Để làm quen thực phầm mới đứa bé có thể cần từ một đến hai tuần lễ.

Bắt đầu với số lượng nhỏ

Các bà mẹ nên bắt đầu với từng muỗng cà phê nhỏ bột trước bữaăn sữa và tăng liều lượng lên từng ngày cho đến khi số lượng bột em bé ăn có thể thế cho bữa sữa. Nên để đứa bé có thời gian làm quen với món ăn mới. Từ tháng thứ năm đến tháng thứ bảycác bà mẹ có thể tập cho đứa bé ăn các loại thực phẩm cứng. Theo ngày tháng những bữa ăn mới này có thể thế hẳn cho các bữa sữa. Theo tuần tự có thể tập cho đứa bé ăn như sau:

Bột rau – khoai tay - thịt, bột sữa – ngũ cốc, và bột ngũ cốc- trái cây. Tuần tự và các thành phần của các loại bột không lệ thuộc vào thời điểm bắt đầu cho ăn các món mới. Từ tháng sáu đến tháng tám đứa bé bắt đầu phát triển động tác nhai. Các bà mẹ có thể cho em bé ăn thực phẩm dạng lớn hơn ( không cần xay, bằm nhuyễn). Khoảng một năm đứa bé có thể tự ăn được.

Bột khoai tây, món đầu tiên

Các bà mẹ nên thay thế các bữa ăn sữa bằng bột khoai tây. Cà rốt có vị ngọt hơn các loại khác nên làm đứa bé dễ liên tưởng đến món sữa đã quen. Cà rốt phần nhiều các trẻ em rất thích. Có những em bé không thích hợp với cà rốt và thường bị xình bụng, phân thải quá cứng hoặchay ợ hơi. Trong trường hợp này không nên dùng cà rốt cho em bé ăn nữa. Để thế cà rốt các bà mẹ có thể dùng bông cải, broccoli, xu hào …

Bột rau- khoai tây- thịt

Sau hai tuần lễ ăn bột khoai tây các bà mẹ có thể thay đổi món mới. Một tuần nên thay thịt bằng lòng đỏ trứng gà nấu chín và qua đó đứa bé có đủ lượng lecithin và cholesterol. Thường các bà mẹ cho em bé ăn vào buổi trưa. Bữa ăn này cung cấp đủ các chất sắt, chất sơ và chất đạm và chất béo cho đứa bé. Trong năm đầu nên cho đứa bé ăn thịt vì nếu không hàm lượng sắt rất khó bổ xung đủ.

Bột ngũ cốc - sữa

Từ tháng thứ sáu, bữa sữa thứ hai trong ngày có thể thế bằng bột ngũ cốc và sữa. Tốt nhất nên cho đứa bé ăn bột này vào buổi chiều tối vì sẽ làm no lâu và đứa bé sẽ ngủ yên. Bột này cung cấp đủ calcium , sắt và iodine ( các sản phẩm làm sẵn có bổ xung), và chất đạm cho đứa bé

Bột ngũ cốc- trái cây bổ xung chất béo

Kể từ tháng thứ bảy các bà mẹ có thể cho em bé ăn dạng bột này vào buổi chiều. Bữa ăn này cung cấp cho em bé các chất sơ, chất vitamin và có chứa các chất đường dễ tiêu hoá. Loại đường này sẽ cung cấp năng lượng cho não bộ. Các bà mẹ nên chú ý, bữa ăn này không nên có nhiều proteine vì các bữa ăn khác đã bổ xung đủ chất đạm

Quan trọng:

Khi em bé tập ăn thực phẩm cứng và không còn ăn các loại thực phẩm lỏng(sữa ..) thì lượng nước sẽ hụt đi. Nên cho đứa bé uống thêm nước. Trà dành cho em bé hoặc các loại nước trái cây pha lỏng rất thích hợp trong thời gian này. Không nên dùng chai bú để cho uống nước ( hạn chế) vì sẽ dễ dẫn đến tình trạng bi sâu răng sau này (có bài nghiên cứu về tình trạng này). Từ tháng thứ tư đến tháng thứ 12 mỗi ngày đứa bé uống đến 400 ml

Ăn uống và những hậu quả cho trẻ em

Từ những nghiên cứu của viện nghiên cứu dinh dưỡng cho trẻ em Dortmund người ta xác định được rằng: trẻ em ăn quá ít rau cỏ, ít ngũ cốc và các sản phẩm từ sữa, thiếu các chất như calcium, vitamin D và folic acid. Trẻ em ăn quá nhiều đồ ngọt, quá nhiều mỡ, quá mặn và không uống các loại thức uống bổ dưỡng.
Trẻ em ít ăn các loại thực phẩm có magnesium, thiếu hẳn vitamin B1 và B2 cũng như vitamin C. Ăn uống sai dễ dẫn đến những bịnh tật khó trị sau này.

Ăn uống sai có nghĩa là chúng ta ăn hàng ngày quá nhiều chất đạm, quá nhiều năng lượng ở dạng chất béo và đường. Vitamin, calcium cũng như chất sắt lại thiếu hẳn hoặc rất ít. Thiếu vitamin và một số chất vi lượng là hậu quả của cách ăn uống không cân bằng. Các chất này rất quan trọng cho sự hoạt động của cơ thể.


Quá nhiều chất đạm từ động vật


Chất đạm quan trọng cho cơ thể. Tuy nhiên chúng ta không còn sống trong thời kỳ thiếu kém mà trong thời kỳ thăng dư thực phẩm. Số lượng chất đạm tiêu thụ nhiều hơn cần thiết.

Trẻ em tiêu thụ quá nhiều chất đạm và tạo ảnh hưởng xấu đến sự trao đổi chất của cơ thể.
Fast Food thường là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự thặng dư chất đạm . Một cái Cheese burger có chứa đến 42% chất đạm cho một ngày. Phối hợp với các thực phẩm có chứa chất đạm khác thì lượng đạm cho một ngày sẽ lên đến hơn 100%.

Chất đạm từ thịt, như trong fast food có chứa nhiều chất béo, cholesterol và Purine. Nên tránh tiêu thụ quá nhiều chất đạm và nên dùng thêm các chất đạm cần thiết có nguồn gốc từ thực vật

Quá nhiều đường


Chất đường là thành phần chính cho cơ thể. Tuy nhiên số lượng tiêu thụ chất bột đường từ ngũ cốc, bánh mỳ khoai tây lại giảm hẳn so với các loại thực phẩm chứa đường khác như banh ngọt , kẹo … và nước ngọt . Nước ngọt là cái bẫy calory, 320 đến 460 kcal / 1 lít thường có trong các loại nước ngọt và 1 lít thì không bao nhiêu lâu là sạch, nếu nước uống ngon !

Tiêu thụ quá nhiều các loại thực phầm ngọt tạo tình trạng béo phì, sâu răng và thiếu hẳn các chất cần thiết cho cơ thể. Trong các loại thực phầm ngọt không chỉ có đường mà còn các chất hương liệu, chất bảo quản, chất làm ngọt .. để tạo mùi ngon hơn ….

Chất béo

Fast food hoặc các loại thực phẩm làm sẵn có chứa nhiều chất béo đủ. Các chất béo này có sự liên quan trực tiếp đến các bịnh tim mạch. Chất béo làm tăng lượng cholesterol và làm tắt nghẽn mạch máu. Quan trọng là không dùng các thực phẩm có chứa nhiều chất béo và nếu có thì các loại chất béo tốt. Nên chú ý đến các thành phần chất béo có ghi trên bao bì các loại thực phẩm làm sẵn.

Tiêu thụ calcium

So sánh nghiên cứu cách đây 15 năm, sự tiêu thụ sữa hiện này đã giảm đến 1/3. Lượng calcium giảm đến 25% theo mức tiêu chuẩn trung bình. Calcium đóng góp trong quá trình tạo cơ bắp. Thiếu calcium sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự cấu tạo cơ bắp.

Tiêu thụ sắt

Sắt không chỉ là loại chất khoáng giữ năng lực của cơ thể mà còn có ảng hưởng đến một số nơi trong não bộ cũng như làm khả năng phản xạ. Nếu thiếu sắt trong một thời gian dài sẽ dẫn đến sự thiếu sắt trong não bộ. Rất có thể sắt chỉ được dự trữ trong não bộ vào một thời kỳ nào đó thôi trong quá trình phát triển và thiếu sắt trong thời gian này không thể bổ sung lại được nữa. Đối với trẻ em và thiếu niên, lượng sắt cần được cung cấp đều đặn để bảo đảm sự phát triển lành mạnh

Vitamin

Thiếu vitamin đối với trẻ em và thiếu niên trong các trường hợp

-
Trẻ em xuất xứ từ các tầng lớp lạo động nghèo
-Biếng ăn
-Thanh thiêu niên ăn kiêng để giữ … eo
-Người mang thai, người đang cho con bú
-Những người bị bệnh gan …

Cải xoong : Rau ngon - Dược tốt

Cải xoong là loại rau đặc biệt giàu vitamin C ( 45 - 50mg/100g ); các vitamin B1, B2, E, và các chất sắt, phốt pho, itốt có tác dụng bảo vệ sức khỏe, chống bệnh tật, nhiễm trùng, chống sự lão hóa, giữ gìn xuân sắc tươi trẻ.
Cải xoong luộc, nấu canh hoặc trộn dầu dấm đều rất bổ vì có nhiều dược tính đáng quý.

Do chất senevol, cải xoong có tác dụng tốt cho sự bài tiết của phổi. Những người bị đờm ở phổi, viêm phế quản, ho dài ngày có thể dùng cải xoong ép lấy nước uống.


Nước cải xoong ép còn có tác dụng trừ giun, sán hiệu quả.


Tỷ lệ iốt, canxi trong cải xoong khá cao và dễ hấp thụ, giúp phòng chống biếu cổ, tăng khả năng tự vệ của cơ thể, tăng sức trao đổi chất của các tế bào, chống bệnh còi xương, các bệnh ngoài da, bệnh sơ cứng động mạch ở người già.


Muối khoáng trong cải xoong có khả năng chống thiếu máu, ăn kém ngon, uể oải, mệt mỏi. Cải xoong là món rau ăn ngon, bổ dưỡng, tẩy độc, lợi tiểu. Nó có khả năng tẩy rửa dạ dày, thông gan và góp phần chữa bệnh ứ máu. Cải xoong không chỉ là rau ngon mà còn có dược tính tốt, làm được các bài thuốc sau :


Chữa ho lao


150g rau cải xoong, 150g phổi lợn đem nấu canh ăn vào buổi sáng. Buổi chiều trộn một nắm rau cải xoong sống với 100g thịt bò sào tái với dấm. Ăn liên tục trong nhiều ngày.


Món ăn này giúp bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng, mau lành bệnh.


Chữa sỏi mật, sỏi thận


Lấy cải xoong phơi chỗ thoáng mát cho đến khi khô. Mỗi ngày dùng 50g cho vào ấm đất, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, chia hai lần uống trong ngày ( sáng, chiều ) và uống khi còn nóng.


Chữa bệnh nhiệt


Môi lưỡi bị lở loét, chảy máu chân răng thì lấy rau cải xoong nấu với cà rốt lấy nước uống sẽ khỏi.


Chữa bệnh đái đường


100g cải xoong,100g cần tây, 100g củ cải, 100g cà rốt, 100g cải bắp ép lấy nước hoặc giã nát, vắt lấy nước uống. Đây là bài thuốc dân truyền chữa bệnh đái đường rất hiệu quả.


Chữa bí tiểu


Lấy rau cải xoong rửa sạch, trộn với dầu vừng ( dầu mè ) và dấm.


Chữa viêm phế quản mạn tính


150g cải xoong, 50g lá tía tô, 5g gừng tươi. Cho cả 3 thứ vào ấm đất, đổ 3 bát nước, sắc còn 1 bát, chia 3 lần, uống trong ngày. Mỗi lần uống cách nhau từ 3 - 4 tiếng. Khi uống phải hâm nóng.

Những cây cỏ chữa suy nhược cơ thể

Dâu tằm, hoa cúc, nhân hạt táo... là những vị thuốc rất tốt cho những người mệt mỏi, suy nhược. Chúng rất thích hợp với người cao tuổi.

Cúc hoa:


Cúc hoa trắng có tác dụng lợi tiểu nhẹ. Hoạt chất glucocid trong thảo dược này có tác dụng hạ huyết áp, làm giảm nhẹ cholesterol và beta - Lipoprotein huyết trên bệnh nhân tăng huyết áp. Nó được dùng chữa các chứng tăng huyết áp, đau đầu chóng mặt, đau dây thần kinh. Ngày dùng 8-16g sắc uống.
Cúc hoa vàng cũng có tác dụng hạ áp, dùng chữa huyết áp cao, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, mờ mắt; uống lâu ngày lợi khí huyết, có tác dụng về nội tiết làm trẻ lâu. Ngày dùng 8-16g sắc uống.

Dâu tằm: Quả chín chữa tiểu đường, lao hạch, thiếu máu, ù tai, mắt mờ, đau khớp xương, kém ngủ, râu tóc bạc sớm, táo bón; uống lâu khỏe người, ngủ ngon giấc, thính tai, sáng mắt, trẻ lâu. Quả dâu vắt lấy nước, cô thành cao mềm, ngày uống 12-20g. Sirô làm từ quả chín bôi chữa đau họng, loét miệng, lở lưỡi. Dâu tằm có tác dụng chữa được nhiều bệnh: tiểu đường, lao hạch, thiếu mau, đau khớp xương...
Nhân hạt táo ta (táo nhân): Được dùng chữa chứng hư phiền khó ngủ, hồi hộp, đánh trống ngực, phiền khát, mồ hôi trộm. Ngày dùng 0,8-1,2g, tương đương với khoảng 15-20 nhân hạt. Nếu dùng liều cao, phải sao đen.

Tam thất: Là thuốc bổ có tác dụng tăng lực và tăng khả năng thích nghi của cơ thể; có tác dụng hoạt huyết, làm tan huyết ứ, chữa thiếu máu, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ít ngủ. Ngày uống 4-6g, dạng thuốc bột hoặc thuốc sắc.


Hà thủ ô đỏ: Có tác dụng bổ máu, chữa thận suy, gan yếu, thần kinh suy nhược, ngủ kém, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối; uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng. Ngày dùng 6-12g sắc hoặc ngâm rượu uống.



Gà ác - Bồi bổ cho người yếu

Các món ăn từ gà ác có tác dụng bồi bổ rất tốt cho phụ nữ đang mang thai hoặc sau khi sinh, người già yếu, kém ăn, trẻ em còi xương; người vừa bị bệnh một thời gian dài...
Gà ác còn có tên là gà ngũ trảo, vì chân có 5 ngón. Thịt gà ác thơm, ngon hơn thịt gà thường và rất giàu dinh dưỡng, có nhiều axít amin cần thiết cho sự phát triển của cơ thể.

Theo y học phương Đông, gà ác có da màu đen, lông màu trắng nên đi vào can thận của con người, rất bổ và tốt cho thận ( thận là gốc của cơ thể ) và phổi. Đặc biệt, thịt gà ác không gây ngứa như các loại gà khác, lại có khả năng giúp mau lành xương.


Viện Chăn nuôi Quốc gia đã phân tích chất lượng thịt gà ác. Kết quả cho thấy hàm lượng chất sắt ( giúp bổ máu ) rất cao, chiếm 8%, gấp đôi so với gà ri. Hàm lượng của một số axít amin cũng cao hơn gà ri.


Món gà ác tiềm thuốc bắc được xem là rất bổ dưỡng. Nhiều hãng thực phẩm còn chế biến món này đóng hộp. Các vị thuốc thường được dùng là nhân sâm, kỷ tử, thục địa, táo tàu...


Phụ nữ đang mang thai hoặc sau khi sinh; người già yếu, kém ăn; trẻ em còi xương; người vừa bệnh một thời gian dài... nên ăn các món gà ác ( gà 4-5 tuần tuổi ) tiềm thuốc bắc, gà ác hầm nhân sâm hoặc tiềm với nấm linh chi.


Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là gà ác rất giàu chất đạm, người lớn mỗi tuần chỉ nên ăn 2 lần, mỗi lần 1 con ( 200 g ), trẻ em tuần ăn 1 lần, mỗi lần nửa con.


Vài món ăn cho trẻ nhỏ

Vài loại bột cho trẻ từ 6-9 tháng tuổi.
Bột sữa, bí đỏ.
Nguyên liệu:
- bột gạo : 20g( 4 muỗng canh gạt)
- sữa bột - loại bé vẫn thường dùng : 15g(4 muỗng canh gạt)
- bí đỏ : 30g ( 3 muỗng canh gạt0
- dầu : 5g ( 1 muỗng cà phê)
- đường : 10g( 2 muỗng cà phê - hình như hơi nhiều).
-nước 200mg( lưng 1 chén)
Cách làm
- Bí đỏ luộc chín, tán nhuyễn,
- Hòa 20g bột vào nước lạnh, bí đỏ, đường, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuáy đều cho đến khi bột chín.
-Cho bột ra chén, thêm 1 muỗng cà phê dầu trộn đều, sau đó mới từ từ cho sữa bột béo vào

* Bột gan- rau dền :
Nguyên liệu :
- Bột gạo : 20g
- Rau dền : 30g
- Gan heo, gà :20g
- Dầu 10g
- Nước 200ml( lưng 1 chén)

Cách làm :
Rau dền: cắ thật nhỏ hoặc băm nhuyễn
- Bọt gạo hoà tan trong it nước, sau đó cho hết phần nước còn lại nấu chín.
- Gan heo hoặc gà đã nghiền nát.
-Gan chín, để rau vào nấu sôi lên, cho bột đã hòa tan vào khuấy chín, cho bột ra chén thêm 3 muỗng cà phê dầu trộn đều, nêm nước mắm hoặc muối i ốt. Nêm nhạt

*Bột cá, rau muống.
Nguyên liệu :
- Bột gạo : 20g
- Cá nạc: 30g
- Rau muống : 30g
- Dầu ăn : 10g
- Nước : 200ml
- Nước mắm hoặc muối i ốt.
Cách làm :
Cá, luộc hoặc hấp chín, nghiền nát.
- Rau muống rửa sạch, cắt nhỏ hoặc băm nhuyễn, Cho bột vào chén, hòa với ít nước quậy cho tan đều. Cho phần nước còn lại vào xoong đun sôi, cho rau vào nấu chín khoảng 5 phút, sau đó cho cá, bột vào nấu tiếp cho chín, nhắc xuống, cho vào 2 muỗng cà phê dầu ăn, trộn đều. Nêm nhạt.

Rượu sim - Phú Quốc

Kể với mọi người về Phú Quốc (trong topic Thế giới qua ảnh ta) nhưng lại quên kể về những đặc sản nơi đây. Nhắc đến Phú Quốc chắc ai cũng nghĩ ngay nước mắm. Nhưng ngoài ra Phú Quốc còn gắn liền với Rượu sim.
Thăm Phú Quốc, uống rượu sim
Mấy năm nay, ai ra thăm đảo Phú Quốc cũng đều được người dân ở đây chiêu đãi bằng một loại rượu đặc biệt, mà cả Tây Nam bộ, chỉ nơi đây mới có. Loại rượu này có hương vị rất đặc biệt, thơm và ngon, người sành điệu cho rằng không kém một thứ rượu ngoại nào. Đó là rượu sim. Rượu sim được làm từ trái sim chín. Đến du lịch đảo Phú Quốc, nếu chưa được uống rượu sim thì xem như đã hỏng nửa chuyến đi. Ở đồng bằng sông Cửu Long, chỉ duy nhất đảo Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang là có cây sim. Rừng sim Phú Quốc nhiều vô kể, đi đâu cũng gặp. Trước kia, vào mùa sim chín (kéo dài vài tháng trước và sau Tết Nguyên đán) dân Phú Quốc chỉ hái về ăn chơi cho vui miệng. Phải đến năm 1997, sim chín mới được chế biến thành rượu. Người đầu tiên chế biến thành công rượu trái sim là ông Mạc Văn Nghiêm, bà con ở Phú Quốc gọi thân mật là chú Bảy gáo. Ông nguyên là Chủ tịch của huyện.

Mọi chuyện xuất phát từ một dịp tình cờ. Một số người từ Đắc Lắc ra thăm đảo, đã tỏ ý tiếc vì thấy Phú Quốc có rừng sim lớn mà lại bỏ phí. Họ cho biết, từ xưa đến nay, đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã biết sử dụng rượu sim để trị các chứng nhức mỏi, đau khớp sau những chuyến băng rừng, vượt dốc. Rồi họ tận tình chỉ dẫn cho ông Nghiêm cách ép, ngâm ủ, lên men trái sim. Ngay từ mẻ đầu tiên, ông Nghiêm đã thành công. Nhiều người tìm đến ông đặt làm rượu mỗi khi trong nhà có khách xa đến chơi hoặc đám tiệc. Có cầu thì có cung, dần dần gia đình ông Mạc Văn Nghiêm chuyển hẳn sang kinh doanh mặt hàng rượu sim. Ông mở rộng qui mô sản xuất bằng cách đón mùa trái sim chín rộ trên rừng, thu mua thật nhiều. Bằng cách này, kể cả vào mùa nghịch, những thùng rượu nhà ông vẫn đầy ắp. Nhờ vậy, du khách đến Phú Quốc, sau khi được nhấm nháp thoải mái hương vị của rượu sim, vẫn có thể mang về đất liền vài lít để làm quà.

Từ sự thành công của ông Nghiêm, đã có nhiều hộ dân khác ở thị trấn Dương Đông, Phú Quốc vào cuộc, quầy bán rượu sim mọc lên khắp nơi. Nhưng không phải rượu nơi nào làm cũng có chất lượng như nhau. Theo ông Nghiêm, muốn rượu ngon, tiêu chuẩn hàng đầu là trái sim phải to, chín mọng, không bị sâu, sượng. Rượu lên men xong không được pha cồn thì mới đảm bảo giữ được hương và vị đặc trưng của loại trái cây này. Hơn 5 năm qua, ông đã tuân thủ nghiêm nhặt những tiêu chuẩn đó để giữ vững uy tín của mình. Nghề làm rượu sim không chỉ mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ sản xuất, kinh doanh mặt hàng này, mà còn giải quyết được nhiều lao động nhàn rỗi ở Phú Quốc trong việc thu hái sim chín

Thuốc từ quả hồng và cây hồng

Hồng là loài cây ăn trái được trồng ở cả đồng bằng và miền núi nước ta. Quả hồng thường được chia thành "hồng ngọt" và "hồng chát" (còn gọi là "hồng ngâm"). Hồng ngọt chín ngay trên cây và tự nhiên hết vị chát, có thể hái về ăn ngay; còn hồng chát phải khử vị chát mới ăn được. Quả hồng là một thứ trái cây giàu chất dinh dưỡng và hoạt chất sinh học: Trong 100g thịt quả có: 0,7g protein. 0,1g lipid, 11g các chất carbohydrate, 3,1g chất xơ 10mg canxi, 19,1mg phôtpho, 0,2 mg sắt, 49,7 mg iôd, 0,16mg caroten, 0,01 mg vitamin B1, 0,02mg vitamin B2, 0,2mg vitamin PP, 0,2mg vitamin PP, 16mg vitamin C. Các chất carbohydrate trong quả hồng chủ yếu là đường saccharose, glucose và fructose; ngoài ra còn có pectine, tannin và một lượng nhỏ các hoạt chất khác.
Quả hồng và các bộ phận của cây hồng đều là những vị thuốc đã được dùng từ lâu đời trong Đông y học. Hồng được chế biến theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích dùng làm thực phẩm hoặc là làm thuốc: Quả hồng đã chín đem bóc vỏ, moi bỏ hạt, ép bẹp, phơi hoặc sấy nhẹ cho se lại, cho vào hộp đến khi vỏ ngoài có mốc trắng thì lấy ra sấy ở nhiệt độ 50-60oC đến khi khô hẳn, như vậy sẽ được "hồng khô" hay còn gọi là "mứt hồng", khi chế hồng khô, bên ngoài quả hồng xuất hiện một lớp phấn, trắng như sương; thu gom lại cất riêng sẽ được thứ gọi là "thị sương" vừa là thức ăn vừa là vị thuốc. Trong chữ Hán quả hồng được gọi là "thị tử" (quả thị của ta gọi là "hoàng thị" hoặc "xú thịn"), cho nên các vị thuốc từ cây hồng đều mang chữ thị: "Thị đế" là tai quả hồng; "Thị tất" là nước ép từ quả hồng chưa chín, đem phơi hay sấy khô.

Từ nhiều thế kỷ, người Nhật có tập quán dùng "trà lá hồng" để dưỡng sinh và phòng trị bệnh tật. Theo các nghiên cứu hiện đại, trong lá hồng có nhiều hoạt chất sinh học như các chất flavonoid, tannin, phenol, tinh dầu, betulinic acid, oleanolic acid, ursolic acid, rustin... đặc biệt hàm lượng vitamin C trong lá hồng rất cao (trong 100g lá tươi có tới 704mg). Lá hồng có tác dụng điệt khuẩn, hạ huyết áp, tăng độ bền thành mạch máu, phòng ngừa xơ vữa động mạch; dùng để chống mất ngủ, giảm béo, chữa bệnh tim và động mạch vành tim, tiểu đường... Theo kết quả nghiên cứu của Viện u bướu Trung Quốc (TQ), lá hồng còn có tác dụng phòng chống ung thư: hàng ngày dùng 15g lá hồng uống thay trà có tác dụng trị liệu tương đối tốt đối với bệnh ung thư thực quản. Những năm gần đây TQ đã bắt đầu sản xuất trà lá hồng để xuất khẩu sang Nhật và tiêu thụ trong nước. Tại một số địa phương ở TQ, người ta chế biến trà lá hồng như sau: Từ khoảng trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 9, hái lá hồng về, buộc thành từng chuỗi, đem nhúng vào nước nóng 85oC trong 15 phút, lấy ra nhúng vào nước lạnh, sau đó đem hong khô trong bóng mát (không phơi nắng), khi lá hồng khô thì vò vụn là được "trà lá hồng"; khi uống có thể hãm với nước sôi như pha trà.
Dưới đây là một số ứng dụng cụ thể từ quả hồng và cây hồng:

Tăng huyết áp: Lấy quả hồng tươi ép lấy nước (thị tất), hòa với sữa hoặc nước cơm uống, ngày uống 3 lần mỗi lần nửa chén. Có tác dụng dự phòng "trúng phong" (tai biến mạch máu não) do tăng huyết áp.
Chứng ưa chảy máu (hemophilia - huyết hữu bệnh): Hồng khô 30g, ngó sen 30g, hoa kinh giới 15g đem sắc uống; khi uống hòa thêm 10ml mật ong; mỗi ngày 1 thang, liên tục trong 15 ngày (một liệu trình), nghỉ vài ngày rồi lại uống tiếp liệu trình khác cho tới khi khỏi.
Chữa tiểu tiện ra máu: Lấy thị đế (tai hồng) đem thiêu tồn tính (rang to lửa hoặc đốt cho đến khi mặt ngoài cháy đen như than, nhưng bên trong vẫn giữ nguyên màu), sau đó nghiền mịn, cất đi dùng dần. Ngày uống 2 lần vào lúc đói bụng, mỗi lần 6g, chiêu bột thuốc bằng nước cơm hoặc cháo loãng.
Trĩ nội, đại tiện xuất huyết: Lấy quả hồng khô 12g, sắc uống hoặc nấu cháo ăn ngày 2 lần. Cũng có thể lấy quả hồng khô, rang vàng, tán mịn, uống ngày 2 lần, mỗi lần 6g.
Chữa các loại xuất huyết bên trong (chảy máu dạ dày, ho ra máu do lao, trĩ nội...): Lấy lá hồng rụng mùa thu rửa sạch, phơi khô, nghiền mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g.
Chữa ban xuất huyết do giảm tiểu cầu (th rombocytopen ic purpura, thrombopenic purpura): Cũng lấy lá hồng rụng mùa thu rửa sạch, phơi khô, nghiền mịn, ngày uống 2 lần vào buổi sáng và buổi tối, mỗi lần 3g, liên tục trong 1 tháng.
Chữa nấc: Lấy cuống quả hồng 3-5 cái, thêm 5 lát gừng sắc uống. Nếu thêm khoảng 5-6g đinh hương càng tốt.
Kiết lị, viêm ruột: Lấy hồng khô thái nhỏ, phơi khô, sao vàng rồi tán thành bột mịn để uống dần, ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g, chiêu bằng nước đun sôi.
Lưỡi, môi lở loét: Lấy thị sương 10g, bạc hà 5g, hai thứ trộn lẫn với nhau đem nghiền mịn, bôi vào chỗ môi bị lở, rất mau khỏi. Hoặc chỉ cần lấy thị sương ngày bôi 3 lần vào chỗ bị lở, vài ngày cũng sẽ khỏi.
Da bị dị ứng: Quả hồng còn xanh 500g, giã nát, thêm 1500ml nựớc vào trộn đều, phơi nắng 7 ngày, bỏ bã, phơi tiếp trong 3 ngày nữa rồi rót vào lọ dùng dần; hàng ngày lấy bông thấm thuốc bôi vào chỗ da bị dị ứng 3-4 lần.
Một số điều cần chú ý:
Quả hồng tuy bổ nhưng không phải ai cũng dùng được. Theo kinh nghiệm của Đông y học, người tỳ vị hư hàn, có đàm thấp bên trong, ỉa chảy, đang bị cảm lạnh không được ăn hồng; sau bữa ăn có món tôm và cua không nên ăn hồng; ăn ngay một lúc quá nhiều hồng, có thể dẫn tới đau trướng bụng, buồn nôn, ỉa chảy...

Đặc biệt, khi đói bụng không nên ăn quá nhiều hồng, nhất là hồng chưa thật chín và ăn cả vỏ. Bởi vì, khi vào dạ dày, một số thành phần trong quả hồng có thể kết hợp với dịch vị tạo thành những chất kết tủa không tan; lúc đầu chỉ nhỏ như hạt mơ dần dần có thể to như nắm tay, gọi là "thị thạch" (sỏi hồng) - bệnh này thường được đề cập đến trong các tài liệu của TQ, ở nước ta ít khi nói tới, tuy nhiên cũng nên biết để tham khảo. Khi bị mắc "thị thạch" thường có các triệu chứng: đau bụng kịch liệt, lợm giọng, buồn nôn, chán ăn; trường hợp nghiêm trọng có thể gây viêm loét dạ dày, thổ huyết, nên sớm đến bệnh viện để chẩn đoán và điều trị sớm.

Càrốt, cà chua - khắc tinh của ung thư phổi


Một số hoa quả như càrốt, cà chua có những tính năng kỳ lạ - ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư phổi. Sau 12 năm theo dõi hàng nghìn người với chế độ ăn uống khác nhau, các bác sĩ của Trường ĐH Y khoa Harvard ở Boston (Mỹ) đã đưa ra lời khẳng định trên.

Qua phân tích cho thấy: Trong càrốt chứa nhiều chất alpha - carotene và cà chua chứa nhiều lycopen. Các chất đó vào cơ thể qua thức ăn sẽ trở thành các hoạt chất carotenoids có tính năng như chất chống oxy hoá và góp phần triệt tiêu các phần tố tự do (FR) gây nguyên nhân huỷ hoại DNA của các tế bào. Sự tác động của các chất FR về lâu dài dẫn tới việc phát triển tốc độ lão hoá của tế bào và gây ra hàng loạt chứng bệnh nan y như ung thư.

Các thí nghiệm cho thấy sử dụng thường xuyên càrốt và cà chua ở dạng tươi đã ngăn ngừa hết sức có hiệu quả căn bệnh ung thư phổi. Thậm chí, những người nghiện thuốc thường xuyên ăn càrốt sống có tỷ lệ ung thư phổi thấp hơn 63% so với người nghiện nhưng không ăn loại quả này. Như vậy so với alpha-carotene, lycopene trong càrốt có vai trò quan trọng và tối ưu hơn trong việc ngăn ngừa ung thư phổi, bởi nó không dễ bị phân huỷ như các carotenoid khác và có khả năng hoá giải cao hơn đối với FR.

Cá mè bọc lá sen

Thành phần:
Cá mè lọc thịt 500 g, Bạch khấu nhân 3 g, lá sen tươi 3 tấm, mỡ chài 150 g, gừng tươi 15 g, xì dầu 30 g, rượu 10 g, muối 1 g, bột hạt tiêu 2 g, mì chính 1 g, lá chè tươi 25 g, đường trắng 30 g, cơm tẻ 60 g.

Chế biến:
1. Cá mè rửa sạch, thái thành 12 miếng vuông, khoảng 3 cm mỗi cạnh. Gừng tươi rửa sạch giã nhỏ, lá sen rửa sạch, nhúng nước sôi cho mềm rồi lấy ra thả vào nước lạnh, cắt thành 12 mảnh. Mỡ lợn cũng rửa sạch và cắt thành 12 miếng. Giã bạch khấu nhân thành bột mịn.
2. Ướp cá mè trong xí dầu, rượu, muối, bột bạch khấu nhân và bột gừng, hạt tiêu, mì chính trong khoảng 10 phút. Sau đó dùng mỗi miếng mỡ chài gói một miếng cá mè, cho tất cả vào mảnh lá sen gói kín lại.
3. Cho cơm, lá chè tươi, đường trắng vào nồi trõ, thêm 500 ml nước. Bên trên đặt vỉ đồ sôi, xếp cá mè gói lá sen lên trên vỉ. Đun nhỏ lửa để hấp cá, chờ cạn hết nước, cơm, lá chè tươi và đường cháy bốc khói hun trong khoảng 10 phút, có thể lấy cá ra, xếp vào đĩa, bóc lá sen khi ăn.

Công dụng:
Ôn bổ tỳ vị, giải thử khứ thấp. Thích hợp với người tỳ vị khí hư, do thử thấp sinh ra chướng bụng khó tiêu, kém ăn, tiêu chảy. Có tác dụng bồi bổ cơ thể, làm cho thiếu nữ da dẻ hồng hào, tươi tắn sắc diện, bồi dưỡng trẻ đang tuổi lớn, làm giảm cân đối với người béo phì.

Gà rán hoàng tinh

Thành phần:
Gà 1 con (khoảng 2000 g), Hoàng tinh 50 g, Đảng sâm 25 g, Hoài sơn dược 25 g, nước canh thịt 1500 ml, Sinh khương 15 g, Hành hoa 15 g, muối tinh 5 g, hạt tiêu 5 g, rượu vang 50 g, mì chính 2 g, mỡ nước 70 g.

Chế biến:
1. Rửa sạch hoàng tinh, đảng sâm, hoài sơn dược, thái đảng sâm thành từng khúc 5 cm, cắt lát hoài sơn dược. Mổ gà vặt sạch lông, chặt bỏ móng chân, moi hết lòng ruột, rửa sạch, nhúng qua nồi nước sôi, vớt ra chặt thành miếng to. Rửa sạch gừng tươi, đập dập, hành rửa sạch thái khúc.
2. Bắc nồi lên bếp, cho mỡ vào, phi gừng hành thật thơm, cho thịt gà chặt miếng vào cùng với đảng sâm, hoài sơn dược, hoàng tinh, muối, bột hạt tiêu, thêm chút rượu, đun to lửa để rán chín vàng, bỏ hết bọt váng, để nhỏ lửa 3 giờ đồng hồ.
3. Lúc gà chín kỹ sẽ nhặt hết hành gừng ra không dùng, thêm chút mì chính vừa đủ vào là được.

Công dụng:
Bổ tỳ vị, an ngũ tạng. Thích hợp với người tỳ vị hư nhược, đi ngoài phân lỏng, gầy yếu sút cân, kém tiêu hóa, đới hạ. Dùng thường xuyên có thể phòng trừ suy nhược già yếu, tăng cường cơ bắp. Đối với phụ nữ do sinh hoạt tình dục quá độ sinh ra các chứng đau lưng, mỏi mệt, đái dắt, nhức đầu, dùng món này cũng đều có hiệu quả tốt.