Bài TS. LÂM VĨNH NIÊN (Giảng viên trường ĐH Y Khoa TP.HCM)
Trong thời gian mang thai, thai phụ nên hạn chế dùng những thực phẩm sau vì chúng có thể gây ảnh hưởng không tốt cho cả sức khỏe mẹ và con Bài TS. LÂM VĨNH NIÊN (Giảng viên trường ĐH Y Khoa TP.HCM)
Trong thời gian mang thai, thai phụ nên hạn chế dùng những thực phẩm sau vì chúng có thể gây ảnh hưởng không tốt cho cả sức khỏe mẹ và con
Khi mang thai các bà mẹ thường nghĩ đến những món ăn có ích cho sự phát triển của trẻ. Thế nhưng đó chỉ mới là một nửa của vấn đề thai kì. Nửa còn lại cũng không kém phần quan trọng là những loại thức ăn nào cần tránh để không gây ảnh hưởng không tốt trên thai nhi.
Các loại tôm, cá, hải sản
Đồ biển là nguồn cung cấp protein sắt rất tốt. Ngoài ra, các acid béo omega- 3 trong nhiều loại cá còn giúp thúc đẩy não trẻ phát triển. Các nghiên cứu cho thấy hạn chế ăn đồ biển trong thai kì thể khiến sau này trẻ phát triển kĩ năng lời nói kém, gặp các vấn đề về hành và các vấn đề phát triển khác. Tuy nhiên một số loại cá và hải sản có vỏ cứng thể chứa lượng thuỷ ngân ở mức gây nguy hiểm. Quá nhiều thuỷ ngân dẫn đến tổn thương hệ thần kinh vốn đang hình thành và phát triển của trẻ.
Cá càng to và càng già tuổi thì càng chứa nhiều thuỷ ngân. Phụ nữ mang thai nên tránh ăn thịt một số loại cá như cá nhám, cá thu vua, cá kiếm... Thai phụ có thể ăn mỗi tuần 350g (khoảng 2 đến 3 bữa ăn trung bình) một số loại hải sản có ít thuỷ ngân như tôm, cá hồi, cá da trơn, cá ngừ (nên hạn chế ăn cá ngừ trắng ở mức dưới 170g mỗi tuần, vì loại cá này chứa hàm lượng thuỷ ngân cao hơn).
Để không ăn phải vi khuẩn hay virus có hại, thai phụ nên tránh dùng các loại cá và thuỷ sản có vỏ sống, đặc biệt là nghêu, sò, và cũng tránh các loại hải sản đánh bắt từ vùng nước ô nhiễm. Hải sản xông khói giữ lạnh cũng nên hạn chế, trừ khi nó là thành phần trong một món ăn khác.
Hầu hết các loại cá nên được nấu đến nhiệt độ bên trong là 62 0 C. Cá chín là khi thịt cá có thể tách ra thành thớ nhỏ và màu trở nên đục hoàn toàn. Tôm và tôm hùm nên được nấu cho đến khi có màu trắng sữa. Nấu nghêu, sò, hến cho đến khi vỏ chúng mở ra, và bỏ những con nào không mở vỏ.
Các loại thịt
Các thay đổi về chuyển hoá và tuần hoàn khiến người mẹ mang thai dễ ngộ độc từ thức ăn nhiễm khuẩn, và phản ứng của cơ thể cũng nặng nề hơn so với lúc không mang thai. Đôi khi tình trạng này cũng ảnh hưởng lên sức khoẻ bào thai. Nên nấu chín thịt trước khi ăn để phòng ngừa các bệnh truyền qua thức ăn.
Thai phụ nên tránh các món hamburger hay xúc xích nấu tái, và cũng cẩn thận với hot dog, thịt nguội vì chúng tiềm tàng khả năng nhiễm vi khuẩn Listeria, một bệnh lan truyền qua thức ăn hiếm gặp. Tốt nhất là nên nấu hot dog hoặc thịt nguội đến khi chảy nước, hoặc tốt hơn là tránh ăn chúng hẳn.
Các sản phẩm từ sữa
Các sản phẩm từ sữa như sữa tách béo, phô-mai có thể là thành phần rất tốt sức khoẻ của bạn và bào thai. Tuy nhiên bà mẹ mang thai nên tránh dùng sữa và sản phẩm từ sữa không được tiệt trùng vì chúng có thể mang mầm bệnh.
Caffein
Caffein có trong cà phê, trà và một số thức uống nhẹ, có thể ảnh hưởng lên sự hấp thu sắt và một số chất dinh dưỡng. Nó cũng qua được nhau, ảnh hưởng lên nhịp tim của bé. Một số nghiên cứu cho thấy uống nhiều caffein có thể làm giảm nhẹ cân nặng trẻ lúc sinh hay làm tăng nguy cơ sẩy thai hoặc thai chết. Nhưng một số nghiên cứu khác lại không cho thấy những nguy cơ này.
Tuy vậy, các chuyên gia khuyến cáo thai phụ tránh dùng caffein trong 3 tháng đầu thai kì và hạn chế mức caffein uống vào dưới 300mg (tương đương 4 tách cà phê, 6 tách trà hay 8 lon coca) mỗi ngày.
Trà thảo mộc
Mặc dù trà thảo mộc có thể tạo cảm giác êm dịu nhưng bạn nên tránh dùng, cho dù chúng được quảng cáo là dành cho phụ nữ mang thai, trừ khi bạn được nhân viên y tế cho phép sử dụng. Người ta chưa có nhiều thông tin về tác dụng của thảo mộc lên bào Và dùng lượng lớn một số loại trà thảo mộc, chẳng sản phẩm từ lá mâm xôi, có thể gây co thắt tử cung.
Rượu
Một cốc rượu hay một ly bia không gây hại cho bé, nhưng người ta chưa chứng minh lượng cồn ở mức độ nào thì an toàn trong thai kì. Do đó cách tốt nhất là thai phụ nên hạn chế bia rượu trong thời gian thai kì. Bạn hãy nghĩ đến những nguy cơ do uống thức uống có cồn gây nên. Rượu làm tăng nguy cơ sẩy thai và chết thai. Uống rượu quá mức dẫn đến hội chứng nhiễm rượu thai nhi, gây biến dạng mặt, các vấn đề về tim, cân nặng lúc sinh thấp và chậm phát triển trí tuệ. Thậm chí uống rượu lượng vừa phải cũng ảnh hưởng lên sự phát triển của não trẻ. Uống rượu bia quá mức khiến mẹ không ăn uống đủ chất, từ đó ảnh hưởng lên tình trạng dinh dưỡng của mẹ. Những cuộc chè chén say sưa là điều hoàn toàn nên tránh.
Quả hồng và các bộ phận của cây hồng đều là những vị thuốc đã được dùng từ lâu đời trong Đông y học. Hồng được chế biến theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào mục đích dùng làm thực phẩm hoặc là làm thuốc: Quả hồng đã chín đem bóc vỏ, moi bỏ hạt, ép bẹp, phơi hoặc sấy nhẹ cho se lại, cho vào hộp đến khi vỏ ngoài có mốc trắng thì lấy ra sấy ở nhiệt độ 50-60oC đến khi khô hẳn, như vậy sẽ được "hồng khô" hay còn gọi là "mứt hồng", khi chế hồng khô, bên ngoài quả hồng xuất hiện một lớp phấn, trắng như sương; thu gom lại cất riêng sẽ được thứ gọi là "thị sương" vừa là thức ăn vừa là vị thuốc. Trong chữ Hán quả hồng được gọi là "thị tử" (quả thị của ta gọi là "hoàng thị" hoặc "xú thịn"), cho nên các vị thuốc từ cây hồng đều mang chữ thị: "Thị đế" là tai quả hồng; "Thị tất" là nước ép từ quả hồng chưa chín, đem phơi hay sấy khô.
Từ nhiều thế kỷ, người Nhật có tập quán dùng "trà lá hồng" để dưỡng sinh và phòng trị bệnh tật. Theo các nghiên cứu hiện đại, trong lá hồng có nhiều hoạt chất sinh học như các chất flavonoid, tannin, phenol, tinh dầu, betulinic acid, oleanolic acid, ursolic acid, rustin... đặc biệt hàm lượng vitamin C trong lá hồng rất cao (trong 100g lá tươi có tới 704mg). Lá hồng có tác dụng điệt khuẩn, hạ huyết áp, tăng độ bền thành mạch máu, phòng ngừa xơ vữa động mạch; dùng để chống mất ngủ, giảm béo, chữa bệnh tim và động mạch vành tim, tiểu đường... Theo kết quả nghiên cứu của Viện u bướu Trung Quốc (TQ), lá hồng còn có tác dụng phòng chống ung thư: hàng ngày dùng 15g lá hồng uống thay trà có tác dụng trị liệu tương đối tốt đối với bệnh ung thư thực quản. Những năm gần đây TQ đã bắt đầu sản xuất trà lá hồng để xuất khẩu sang Nhật và tiêu thụ trong nước. Tại một số địa phương ở TQ, người ta chế biến trà lá hồng như sau: Từ khoảng trung tuần tháng 7 đến trung tuần tháng 9, hái lá hồng về, buộc thành từng chuỗi, đem nhúng vào nước nóng 85oC trong 15 phút, lấy ra nhúng vào nước lạnh, sau đó đem hong khô trong bóng mát (không phơi nắng), khi lá hồng khô thì vò vụn là được "trà lá hồng"; khi uống có thể hãm với nước sôi như pha trà.